Lời vàng của Cha Benado

Thứ năm - 20/09/2018 01:45  219
LỜI VÀNG
của CHA BÊNAĐÔ MARIA
ĐỒNG SÁNG LẬP DÒNG TRINH VƯƠNG

Lời tựa
Lời giáo huấn của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI còn văng vẳng bên tai chúng ta: “Bao lâu các Tu sỹ còn hít thở tinh thần của Vị Sáng Lập, bấy lâu Hội Dòng của họ còn thịnh vượng và phát triển”. Đồng chiều tư tưởng đó, Guibert cho chúng ta nhận xét:
“Một Dòng Tu thịnh vượng lâu đời là nhờ tinh thần Đấng Sáng Lập hun đúc; đến khi nào Hội Dòng vì lỗi mình bỏ mất cái nguyên lý sinh tồn, thì Hội Dòng ấy sẽ tiêu diệt. Vì thế các Vị Bề Trên, hay các vì chấn hưng Hội Dòng mình, đừng quên làm thức tỉnh lại tinh thần của Đấng Sáng Lập”.
Cuốn sách bé nhỏ này ghi lại những lời huấn giáo tâm huyết vắn gọn, cụ thể của Cha Bênadô Maria, Đồng Sáng Lập Dòng Trinh Vương; từng lời, từng câu nhắc lại cho các Nữ Tu Thừa Sai Đức Mẹ Trinh vương tấm lòng thao thức, niềm khát mong của Cha về sự thánh thiện và đời sống thánh hiến của Hội Dòng, của từng chị em.
Khát mong toàn thể chị em với hết tình con thảo yêu kính đón nhận, trân trọng ghi nhớ và để tâm thực hành Lời Vàng của Cha, để luôn làm thức tỉnh trong tâm hồn cũng như đời sống mình Tinh Thần và Đoàn Sủng của Cha Đồng Sáng Lập, hầu xây dựng tiền đồ Hội Dòng chúng ta bền vững và phát triển hơn mãi.

 
Bùi Môn, dịp lễ Mẹ Bề Trên 08/12/2011
Chị Angela M. Phạm Thị Hưng
Tổng Phụ Trách

1 cha dsl dtrinhvuong 1

















I. Ơn Thánh

1. Ơn gọi tu Dòng của chị Nữ tu Trinh Vương là: Thánh hóa bản thân, bằng cố gắng phát triển đời sống Ơn Thánh cho đến chỗ sung mãn. (Ngày 30.11.1998)
2. Chúng ta vào Dòng để sống sự sống siêu nhiên cách dồi dào và vững chắc hơn.
 (Ngày 25.5.1995)
3. Ta có sự sống Thiên Chúa trong mình còn gì cao qúi và sung sướng bằng !
      (Ngày 17.11.1994)
4. Chúng ta đi tu để chỉ lo sống là đứa con nhỏ của Chúa Cha theo gương Chúa Giêsu. (Ngày 25.11.1995)
5. Chúng ta đi tu là đi vào con đường chắc chắn đạt tới hạnh phúc đời đời và giữ được sự sống thần linh vững vàng hơn.  (Ngày 4.6.1995)
6. Ơn Thánh là của vô  giá, không có gì trên trền gian sánh ví được.  (Ngày 07.06.1994)
7. Chúng ta cám ơn Chúa về Ơn Thánh Chúa đã ban cho, không có ơn nào qúi báu bằng Ơn Thánh.   (Ngày 06.10.1991)
8. Chúng ta đừng vì lý do gì mà làm mất Ơn Thánh. Vì thế ta cố tu để giữ nó, khổ cực đến đâu cũng tu.  (Ngày 29.11.1993)
9. Phải coi đời sống siêu nhiên là quan trọng, vì nó đưa đến đời sống vĩnh cửu.  (Ngày 12.06.1993)
10. Hãy qúi trọng Ơn Thánh và cố lo phát triển Ơn Thánh trong ta cũng như trong chị em. (Ngày 03.12.1989)
11. Ta phải biết địa vị được làm con Chúa của mình, để quý trọng, để biết ơn Chúa và để sống đúng địa vị ấy.  (Ngày 25.3.1990)
12. Hãy cố sống đời sống ơn thánh Chúa đã ban cho ta và cố trở nên con Chúa hơn.  (Ngày 4.3.1995)
13. “Sống đúng ơn gọi làm Con Cha Trên Trời”, không có gì đáng ta suy nghĩ  suốt đời bằng vấn đề này.  (Ngày 18.03.1990)
14. Được làm con Thiên Chúa, đó là một vinh dự mà không có gì vinh dự hơn.  (Ngày 18.03.1990)
15. Chúng ta có làm việc lành hay hy sinh cái này cái khác là ta làm cho đời sống Ơn Thánh dần dần đến chỗ sung mãn, để khi chết, ta được về Thiên Đàng với Chúa. (Ngày 25.11.1995)
16. Chúng ta đã được làm con Chúa qua bí tích Rửa Tội, nên dù đi đâu ở đâu hãy luôn nhớ tới và cố giữ lấy sự sống qúi báu ấy.
(Ngày 26.1.2002)
17. Hãy cố gắng làm cho tình yêu Chúa, và Ơn Thánh trong tâm hồn ta mỗi ngày được phát triển và lớn mạnh hơn.                 
(Ngày 29.11.1993)
18. Hãy cầu xin Chúa và Mẹ giúp ta hiểu và sống ơn làm con Chúa hơn. Đồng thời ta hy sinh, cầu nguyện để mọi người cũng được làm con Chúa.  (Ngày 29.11.1993)
19. Hạnh phúc được làm con Chúa là điều cao qúy nhất, đáng ước ao nhất, nên ngày kỷ niệm ta chịu phép Rửa Tội là ngày đáng mừng nhất.  (Ngày 04.2.1990)
20. Nếu ta không cố gắng làm cho mầm sống “Con Chúa” trong ta được phát triển thì thật đáng tiếc vô cùng. (Ngày 04.2.1990)
21. Ta phải nỗ lực sống đúng ơn gọi làm con Chúa, vì tất cả đời sống tu đức của ta cũng hệ ở đó.  (Ngày 18.3.1990)
22. Tất cả cuộc đời Chúa Giêsu  là để làm gương cho ta sống đúng ơn gọi là con Cha trên trời, vậy ai không bắt chước Chúa sẽ thiệt hại vô cùng.   (Ngày 18.3.1990)
23. Hãy cám ơn Chúa về Ơn Thánh Chúa ban cho ta. Đây là một hạt ngọc qúi mà ít ai biết đến.  (Ngày 02.6.1993)
24. Ơn Thánh như viên ngọc qúi, ta phải giữ cho kỹ.  (Ngày 02.6.1993)
25. Ngày Rửa Tội ta nên chi thể Chúa Kitô. Ngài là Đầu, ta là thân mình và có cùng một sự sống như Đầu, không gì qúi bằng ơn này.  (Ngày 29.11.1998)
26. Chúng ta phải lo làm cho Ơn Thánh trong ta sinh hoa kết qủa. (Ngày 25.11.1995)
27. Nếu chết mà không có Ơn Thánh trong tâm hồn, ta phải nói: “Thà người đó đừng sinh ra thì hơn”. (Ngày 25.11.1995)
28. Chúng ta hãy cầu nguyện cho ta biết qúi trọng và làm phát triển Ơn Thánh mạnh mẽ. (Ngày 29.11.1993)
29. Chúng ta cầu nguyện cho những những người chưa biết đến Ơn Thánh để họ được ơn cao qúi đó. (Ngày 29.11.1993)
30. Cầu cho những người đã được lãnh nhận Ơn Thánh mà chưa hề nghe nói đến, để họ được nghe, hiểu và sống ơn cao quý này.  (Ngày 29.11.1993)
31. Ta là nữ tu thừa sai, hãy cố đưa nhiều người về làm con Chúa, để được thừa kế Nước Trời.  (Ngày 07.6.1994)
32. Chẳng những ta sống và làm phát triển đời sống ân sủng, mà còn phải loan truyền đời sống này cho những người khác nữa.
(Ngày 02.6.1993)
33. Ta được làm con Chúa, phương chi là con ưu tuyển của Chúa nữa, đó là địa vị cao quý nhất trần gian. (Ngày 25.3.1990)
34. Không một tín hữu nghiêm chỉnh nào lại sống ơ hờ với ơn được làm con Chúa.  (Ngày 07.6.1994)
35. Ta phải cố gắng sống xứng đáng là đền thờ của Thiên Chúa.  (Ngày 07.6.1994)
36. Thân xác ta là đền thờ Chúa Thánh Thần, là nơi Chúa Giêsu  ngự trị. Đó là chân lý mà ít khi ta nghĩ tới. (Ngày 07.6.1994)
37. Ta hãy suy nghĩ kỹ để cả cuộc đời ta sống đúng là con Chúa, là con nõn của Chúa. Ta càng là đứa con bé, Chúa càng thích.
(Ngày 06.10.1991)
38. Vinh dự lớn nhất của ta trên trần gian cũng như trên Thiên Đàng là được làm con Cha. (Ngày 18.3.1990)
39. Nếu ai hỏi ta có phải là con Thiên Chúa không, có lẽ ta sẽ thưa rất dễ dàng, nhưng trong thực hành ta có sống đúng là con Thiên Chúa không ?   (Ngày 25.3.1990)

II. Khát vọng nên Thánh

40. Mục đích của ta vào Dòng là thánh hóa bản thân và cứu các linh hồn.  (Ngày 23.7.1990)
41. Nếu có lòng ước ao nên thánh mạnh mẽ, thì chúng ta sẽ cầu nguyện tha thiết. (Ngày 08.5.1993)
42. Ta đi tu là để lo nên thánh trước hết, đó mới là việc chính, còn mọi cái khác chỉ là để giúp ta đạt đến mục đích ấy.  (Ngày 16.8.1991)
43. Ta phải khao khát nên thánh như người ta ham sống vậy.  (Ngày 05.12.1988)
44. Nên thánh là mục đích ta phải luôn nhắm tới. Nếu các con không nên thánh thì không còn lý do đề tồn tại nữa đâu.
(Ngày 05.12.1988)
45. Các Bề Trên luôn lo cho các con sống thánh thiện. Nếu có cái gì làm ngãng trở cho việc nên thánh của mỗi người thì các Ngài phải vội tìm cách cất đi ngay. (Ngày 05.12.1988)
46. Việc nên thánh các con phải suy gẫm hằng ngày và cố gắng luôn luôn.  (Ngày 05.12.1988)
47. Ai trong chúng ta vào Dòng cũng phải có lý tưởng nên thánh, nếu không thì kỳ dị lắm ! (Ngày 05.12.1988)
48. Cha không cần các con thương Cha bằng cách nào hết, chỉ mong các con nên thánh thôi. (Ngày 02.01.2005)
49. Nên thánh là mục đích của đời tu chúng ta, nên không có tuần nào, tháng nào, dịp cấm phòng nào mà Cha không nhắc cho các con. (Ngày 05.12.1988)
50. Điều tha thiết nhất của Cha là mong cho các con nên thánh, và làm cho người khác cũng nên thánh. (Ngày 11.06.1999)
51. Nếu chúng ta giữ được lòng tha thiết muốn nên thánh thì  sẽ tiến mau trên đường thánh thiện.  (Ngày 17.3.1988)
52. Chớ gì việc ước ao nên thánh luôn ám ảnh chúng ta. (Ngày 17.3.1988)
53. Đường lối nên thánh của Dòng chúng ta là sống bé nhỏ, bám lấy Mẹ như Chúa Giêsu Ấu Thơ mà Phúc Âm đã trình bày.
(Ngày 25.4.1982)
54. Chúng ta cầu xin cho mọi chị em  luôn hướng đến mục đích nên thánh, đi vào con đường bé nhỏ để Mẹ dẫn dắt chúng ta từng bước. (Ngày 25.4.1982)
55. Sự thánh thiện mà chúng ta vào Dòng để tìm kiếm là chính Chúa Giêsu.  (Ngày 8.1.1989)
56. Đi tu là để nên thánh, nên giống Chúa, để người ta nhìn vào ta họ nhận ra Chúa.  (Ngày 8.1.1989)
57. Ở bất cứ nơi nào, ta cũng luôn nghĩ đến việc sống bé nhỏ và cố gắng nên thánh. (Ngày 26.05.2005)
58. Ai cũng phải nên thánh, vì Chúa đã ra lệnh: “Hãy nên thánh, vì Ta là Đấng Thánh” (Lv 19,2)(Ngày 20.9.1992)
59. Việc nên thánh cụ thể của chúng ta là bé nhỏ lại, là quên hẳn mình đi.  (Ngày 26.05.2005)
60. Sống đúng tinh thần bé Nhỏ, đấy là đỉnh cao của sự thánh thiện, đấy là bảo đảm cho sự sống đời đời của chúng ta.
 (Ngày 14.10.2004)
61. Mỗi người hãy tự lo đến đời sống thánh thiện của mình. (Ngày 12.6.1993)
62. Ta vào Dòng để học nên thánh. Làm việc gì, ta cũng hãy có thói quen làm vì Chúa.  (Ngày 12.9.1993)
63.  Đừng nghĩ, chúng ta đi tu để làm cái này cái kia... nhưng điều quan trọng là những việc đó có giúp ta nên thánh không ?
(Ngày 11.4.1995)
64. Thánh là yêu Chúa đến tột độ, đến hoàn hảo.  (Ngày 16.8.1991)
65. Ta đi tu không để đi học, đi dạy học nhưng là để làm thánh.  (Ngày 11.7.1993)
66. Muốn biết ai là người thánh, chúng ta cứ xem họ có giống Chúa Kitô không.   (Ngày 29.9.1996)
67. Người lớn tuổi rồi phải lo sống thánh vì sắp ra khỏi đời này. (Ngày 11.7.1993)
68. Người trẻ phải lo nên thánh vì đó là mục đích khi vào Dòng.  (Ngày 11.7.1993)
69. Chúa đặt chúng ta vào nhà dòng nào, Chúa sẽ ban ơn đủ để ta nên thánh trong dòng đó. (Ngày 21.5.1995)
70. Chúng ta hãy cầu nguyện cho mọi phần tử : bề trên, bề dưới, được ơn khao khát nên thánh. (Ngày 29.05.2004)
71. Ta phải cố gắng đạt được lý tưởng thánh, vì cả Thiên Đàng cũng chỉ mong cho ta sống đúng ơn gọi nên thánh.                              (Ngày 15.02.1989)
72. Phải sống sao để người ngoài nhận ra chúng ta đi tu vì muốn tìm sự thánh thiện thật. Ơn gọi như vậy mới quý.
 (Ngày 24.3.1991)
73. Ta cố sống thánh thiện rồi mọi cái khác Chúa lo cho.  (Ngày 11.11.1991)
74. Chúng ta hãy là trinh nữ khôn ngoan, luôn lo tìm nước Chúa và sự thánh thiện, còn mọi cái khác Chúa thêm cho.
(Ngày 20.02.1996)
75. Nếu các Bề Trên tha thiết lo cho chị em sống thánh  thiện thì Chúa và Mẹ sẽ làm hết cho, và đời sống thiêng liêng của ta sẽ phát triển.  (Ngày 12.11.1995)
76. Bất cứ đi đến đâu ta cũng có bổn phận phải làm cho mình và cho chị em nên thánh.  (Ngày 8.01.1989)
77. Lòng yêu Dòng phải được tỏ ra trước hết bằng việc cố gắng nên thánh.  (Ngày 9.12.1989)        
78. Càng trung thành giữ những điều nhỏ mọn ta sẽ càng nên thánh to. (Ngày 13.11.1989)
79. Các con phải lợi dụng mọi cơ hội để đạt lý tưởng nên thánh.  (Ngày 18.12.1988)
80.  Bầu chọn chị tổng phụ trách hay chị phụ trách, ta để ý chọn những chị biết tha thiết lo cho chị em nên thánh.                         (Ngày 12.11.1995)          
81. Thánh hóa bản thân và làm cho người khác được ơn cứu độ, chúng ta không thể thiếu một trong hai điểm đó được.  
(Ngày 22.4.1995)
82. Việc nên thánh là của Chúa. Cần chúng ta cậy trông vào Chúa, Chúa sẽ làm cho.(Ngày 29.01.1989)
83. Khi các Bề Trên có nhắc bảo các con điều gì, là để giúp các con nên thánh.  (Ngày 9.02.1989)
84. Điều cốt yếu ta phải để ý là lo cho mình nên thánh,  nên chị Dòng lý tưởng để đẹp lòng Chúa và cứu cho Chúa nhiều linh hồn.  (Ngày 15.3.1992)                    
85. Nếu chị em cùng cố gắng lo cho nhau nên thánh thì chúng ta đã biến Hội Dòng thành thiên đàng ở trần gian rồi. Thật hạnh phúc biết bao!(Ngày 03.12.1989)

III. Trở nên Giêsu ấu thơ nằm ngủ trên cánh tay Mẹ

86. “Trở nên Giêsu Ấu Thơ nằm ngủ trên cánh tay Mẹ Maria”, đó là điều lòng con khát mong đêm ngày. (Ngày 7.10.1986)
87. Chúng ta cần Mẹ tuyệt đối, nên ta phải lệ thuộc Mẹ như bào thai trong lòng Mẹ.  (Ngày 30.6.1985)
88. Lệ thuộc Mẹ Maria, đó là bí quyết của sự thánh thiện. (Ngày 07.4.1991)
89. Chúng ta phó thác cho Mẹ, Mẹ sẽ đưa ta đến với Chúa, không bao giờ Mẹ giữ ta lại cho Mẹ. (Ngày 07.4.1991)
90. Hãy để Mẹ đưa ta đi đâu tùy ý Mẹ, Mẹ định đoạt về ta thế nào tùy ý Mẹ. (Ngày 31.1.1993)
91. Càng lệ thuộc Mẹ bao nhiêu, ta càng thánh to bấy nhiêu, vì càng được nên giống Chúa Giêsu Ấu Thơ. (Ngày 31.1.1993)
92. Ai cũng phải cố gắng làm môn đệ Chúa bằng cách sống lệ thuộc vào Chúa và Mẹ, vào các Bề Trên và những người đại diện các Ngài. (Ngày 31.1.1993)
93. Chúa Giêsu là Chúa trời đất, hạ mình làm bào thai lệ thuộc Mẹ, một thụ tạo của mình. Phương chi chúng ta là một thụ tạo phàm hèn mà lại không lệ thuộc Mẹ được sao? (Ngày 31.1.1993)
94. Xin Chúa cho chúng ta được yêu Mẹ, bám lấy Mẹ như đứa trẻ thơ hay như một bào thai. (Ngày 29.08.1996)
95. Trong mọi việc, ta hãy tập sống mật thiết với Mẹ như Giêsu ấu Thơ. (Ngày 12.05.1991)
96. Chúng ta hãy coi mình là những đứa bé, cái gì cũng phải nhờ Mẹ, bám lấy Mẹ để Mẹ làm cho ta nên đẹp lòng Chúa.
(Ngày 09.07.1989)
97. Ta hãy phó thác cho Mẹ, sống đúng việc tận hiến để chị em bắt chước ta mà sống cho Mẹ vì đó là điều rất tốt.  (Ngày 03.09.1989)
98. Hãy cố gắng sống bé lại như “Giêsu bé thơ” trong lòng Mẹ, để Mẹ làm tất cả cho ta. (Ngày 29.10.1989)
99. Lệ thuộc Chúa và Mẹ là đời sống tốt nhất, an bình nhất. (Ngày 13.11.1989)
100. Khi ta hoàn toàn lệ thuộc Mẹ, Mẹ sẽ dùng các Bề Trên để huấn luyện ta. (Ngày 13.11.1989)
101. Trở nên Giêsu Ấu Thơ nằm ngủ trên cánh tay Mẹ, đó là con đường vững chắc nhất để vào Thiên Đàng. (Ngày 12.03.2004)
102. Ta hãy tập lãnh nhận tất cả và chờ đợi tất cả từ nơi Mẹ như Chúa Giêsu Ấu Thơ. (Ngày 31.01.1993)
103. Nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu Ấu Thơ, đó là tất cả lý tưởng của chúng ta.(Ngày 22.03.1992)
104. Ngày nào sau rước lễ Cha cũng cầu nguyện cho mọi chị em Dòng, được trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu ấu Thơ nằm ngủ trên cánh tay Mẹ.  (Ngày 25.12.2004)
105. Trở nên Giêsu Ấu Thơ nằm ngủ trên cánh tay Mẹ, đó là ơn riêng Chúa ban cho Dòng chúng ta. (Ngày 29.10.2004)
106. Các con hãy luôn nhớ : Mục đích chính yếu và quan trọng của Hội Dòng Trinh Vương là tiếp nối cuộc đời Ấu Thơ của Chúa Giêsu. (Ngày 19.12.2003)

IV. Những đặc điểm của trẻ thơ

1. Bé nhỏ

107. Giá trị của một chị nữ tu Trinh vương là có tâm hồn bé nhỏ. (Ngày 21.03.1993)
108. Càng già, các con càng phải cố gắng cho tinh thần trẻ lại. (Ngày 01.11.1989)
109. Chúng ta sống bé nhỏ là sống trong sự khôn ngoan của Thiên Chúa, vì sự khôn ngoan của Chúa chỉ mặc khải cho những người bé nhỏ khiêm tốn.  (Ngày 11.2.1990)
110. Nếu ta càng bé càng ý thức mình bất lực, Mẹ càng ở gần ta hơn. (Ngày 26.8.1990)
111. Hằng ngày hãy để ý xin ơn nhận ra mình bất lực, hư vô, để bám lấy Mẹ.  (Ngày 26.8.1990)
112. Muốn sống dễ dàng với nhau, cần các con phải cầu nguyện và sống bé nhỏ. (Ngày 26.8.1990)
113. Nếu ai không muốn cố gắng, không thật tình muốn sống bé nhỏ, thì rút lui sớm đi ; vì không thể sống trong Dòng Trinh Vương này được. (Ngày 09.12.1990)
114. Chúng ta đừng ai mong được in năm dấu thánh, vì ta sống theo con đường bé nhỏ, không có gì khác thường.
(Ngày 08.3.1991)
115. Ai đã tu trong Dòng Trinh Vương, càng tu lâu, càng phải để ý thực hành tinh thần bé nhỏ hơn. (Ngày 13.8.1991)
116. Khi  già rồi mà một em bé đứng lên điều khiển, ta cũng vâng phục rất ngoan ngoãn, đó mới là bé nhỏ. (Ngày 13.8.1991)
117. Ta hãy luôn coi mình là đứa bé, không ngại bắt đầu lại hằng ngày.  (Ngày 06.10.1991)
118. Ta hãy nhờ tràng hạt để xin ơn bé nhỏ, vì Mẹ hứa : “Ai nhờ tràng hạt mà xin bất cứ ơn gì, Mẹ sẽ ban cho”.                  
(Ngày 27.10.1991)
119. Sống bé nhỏ, ta chắc chắn sẽ chiếm được Thiên Đàng.
(Ngày 27.10.1991)
120. Các chị Khấn Trọn là những người rất quan trọng, là rường cột của nhà Dòng, hãy gắng sống bé lại một tí.                                      (Ngày 02.2.1992)
121. Muốn sống bé nhỏ phải cố gắng liên tục và phải từ bỏ mình khiếp khủng, chứ không phải dễ đâu. 
        (Ngày 31.1.1993)
122. Càng nhiều tuổi ta càng phải trẻ lại, muốn vậy, phải có sự cố gắng đi vào đường hẹp.   
        (Ngày 18.7.1992)
123. Không phải dễ mà ta sống bé được. Muốn sống bé nhỏ, ta phải cố gắng luyện tập hằng ngày.
        (Ngày 23.8.1992)
124. Sống bé nhỏ làm được rất nhiều việc, nhất là làm cho cộng đoàn được yên hàn.
        (Ngày 23.8.1992)
125. Muốn nên thánh ta cần phải bé nhỏ lại và cố tìm mọi cách để bé lại.
(Ngày 20.9.1992)
126. Nếu ta sống tinh thần bé nhỏ thì ta sẽ hiệp nhất với nhau, sẽ không còn những chia rẽ, xích mích, giận hờn, ghen tương. 
(Ngày 15.11.1992)
127. Nếu ta không sống tinh thần bé nhỏ thì sẽ dễ buồn khổ, mất ăn, mất ngủ rồi sinh bệnh...
(Ngày 15.11.1992)
128. Muốn phục vụ ta phải trở nên bé nhỏ, đó là tinh thần của Dòng ta.  
(Ngày 27.11.1983)
129. Càng già, ta càng phải chuẩn bị để về trời, mà cách chuẩn bị chắc chắn nhất là cố gắng sống bé nhỏ.   
 (Ngày 27.11.1983)
130. Dòng chúng ta có phát triển hay không là tùy ở chúng ta có sống tinh thần bé nhỏ hay không.
 (Ngày 14.9.1989)
131. Những ai được Chúa đặt lên làm Bề Trên phải khiêm tốn thực hành Lời Chúa : “… Ai làm đầu trong các con thì phải trở thành đầy tớ mọi người” (Mt 20,25-26).
       (Ngày 19.2.1989)
132. Muốn trung thành với Chúa, muốn Chúa ở với ta, ta phải bé nhỏ lại.
       (Ngày 04.08.2001)
133. Khi bầu các bề trên, ta phải chọn người có tinh thần bé nhỏ, đừng chỉ để ý xem hình dáng bên ngoài.
       (Ngày 11.10.1992)
134. Một trong những dấu hiệu của một linh hồn bé nhỏ là lúc nào cũng muốn lớn lên trong đời sống siêu nhiên.
      (Ngày 31.1.1993)
135. Càng lớn tuổi càng phải bé lại trong đời sống thiêng liêng, càng tiến lên trong đường thánh thiện.
      (Ngày 12.6.1993)
136. Trong đời sống siêu nhiên, nếu  không khát khao nên thánh, nên bé nhỏ thì không thể tiến được.
       (Ngày 16.6.1993)
137. Hãy hưởng dùng mọi sự Chúa ban với hết lòng biết ơn và yêu mến, như những trẻ thơ nhận tất cả từ cha mẹ.
      (Ngày 11.7.1993)
138. Chúng ta hãy sống đơn sơ như một đứa trẻ, trông nhờ và đón nhận mọi sự từ cha mẹ.
      (Ngày 11.7.1993)
139. Người không có tinh thần bé nhỏ thì dù học hành giỏi giang đến đâu cũng không làm được gì.
      (Ngày 12.9.1993)
140. Trong phạm vi siêu nhiên, nếu không  sống thánh, sống bé nhỏ, ta sẽ già cỗi đi.
      (Ngày 26.9.1993)
141. Các chị em đang được đi học, phải luyện tập cho mình có tinh thần bé nhỏ để có thể phục vụ Giáo Hội và Hội Dòng.
      (Ngày 26.9.1993)
142. Hãy tập trẻ trung lại trong việc giữ đúng giờ giấc, trong việc ham học hỏi về Lời Chúa, về mục tiêu, về Giáo Hội…  
(Ngày 26.9.1993)
143. Chúa đòi chúng ta bé nhỏ lại để sống được với nhau, đừng kèn cựa, giữ kẽ làm cho chị em khó xử với mình.                          (Ngày 12.4.1996)
144. Nếu ta sống thật sự là đứa con nhỏ thì Cha trên trời sẽ rất hài lòng sung sướng và Mẹ Maria sẽ lo liệu cho ta mọi sự.
(Ngày 17.6.1996)
145. Ơn trở nên bé nhỏ chúng ta không tự tập được, phải cầu nguyện rồi Chúa làm cho.
 (Ngày 20.9.1996)
146. Chúng ta hãy trở nên bé nhỏ cách cụ thể trong đời sống, chứ đừng chỉ nói ngoài miệng.
(Ngày 02.10.1996)
147. Càng khấn lâu năm trong Dòng, ta càng phải bé lại.
 (Ngày 02.11.1996)
148. Ai cũng cố gắng trẻ lại, trẻ về tinh thần, trẻ về lòng đạo đức, trẻ trong sự kết hợp với Chúa và Mẹ, trong việc làm con Chúa, con của Mẹ…                               (Ngày 02.11.1996)
149. Ta hãy tập nhớ đến Chúa, sống kết hợp với Mẹ, như đứa trẻ đêm thức giấc gọi mẹ.
(Ngày 27.4.1995)

2. Khiêm nhường

150. Càng lớn tuổi, càng muốn tự lập mà ta lại cố sống bé nhỏ, khiêm tốn vâng phục thì càng nên giống Chúa Giêsu. (Ngày 27.10.1991)
151. Nhà Dòng qúy những người lúc đầu họ kiêu căng tự phụ, nhưng khi được sửa bảo, họ quyết tâm sửa năm này qua năm khác để trở nên khiêm nhường. (Ngày 27.10.1991)
152. Càng tu lâu càng phải khiêm nhường, đừng tự phụ.  (Ngày 03.9.1989)
153. Người có tinh thần bé nhỏ luôn sống khiêm nhường, không dám coi mình hơn ai. (Ngày 29.9.1989)
154. Ta hãy sống đúng là một nữ tu: hiền lành và khiêm nhường. (Ngày 18.07.2000)
155. Muốn được mọi người yêu thương, các con cứ sống hiền lành, khiêm nhường, nhịn nhục. (Ngày 27.11.1988)
156. Chúa ban cho ta có tài gì thì cần ta phải khiêm tốn mới qúi, kẻo có tài mà kiêu căng thì chẳng ai ưa đâu. (Ngày 22.1.1989)
157. Các con cố sống khiêm tốn hoà thuận để làm gì, ở đâu cũng được. (Ngày 22.1.1989)
158. Chỉ những ai có tâm hồn khiêm tốn mới thành công. (Ngày 09.7.1989)
159. Giá trị của một nữ tu không phải ở chỗ khéo nói, có tài cán, nhưng ở tại sự khiêm tốn. (Ngày 18.2.1990)
160. Muốn xây nhà đạo đức vững chắc, khỏi sợ lún, sợ nghiêng, cần ta phải đào móng khiêm tốn thẳm sâu(Ngày 18.2.1990)
161. Ta hãy sống khiêm tốn không những trong lời nói, mà nhất là trong việc làm.  (Ngày 18.2.1990)
162. Ai muốn nên thánh mà có thiện chí và có lòng khiêm nhường thì sẽ sửa được tính riêng và tiến bộ.(Ngày 05.8.1990)
163. Ai kiêu căng thì không nên thánh được. (Ngày 05.8.1990)
164. Hãy tập sống khiêm nhường, coi mình như hạt cát người ta giẵm lên, không ai thèm để ý.  (Ngày 24.3.1991)
165. Muốn được nên môn đệ đích thực của Chúa theo gương Mẹ Maria, điều quan trọng là ta phải hạ mình xuống. (Ngày 24.3.1991)
166. Mỗi lần có cái gì đụng chạm đến tự ái mà ta bực tức, khổ sở là ta còn đưa mình lên cao qúa. Điều này rất nguy hiểm.
(Ngày 24.3.1991)
167. Người khiêm nhường không bao giờ dám trách móc hay quát mắng ai (Ngày 04.7.1991)
168. Người khiêm nhường thì cũng hiền lành, vì họ luôn đặt mình bên dưới mọi người.  (Ngày 04.7.1991)
169. Người khiêm tốn không khi nào đổ tội cho ai, bao giờ họ cũng nhận ra mình có lỗi. (Ngày 04.7.1991)
170. Chúng ta đừng kiêu ngạo, tỏ ra ta đây biết này biết nọ kẻo lố bịch lắm, vì ta không hơn gì ai. (Ngày 15.12.1991)
171. Ta phải sống khiêm tốn, đừng cho mình lúc nào cũng “phải”, để Chúa có thể sử dụng ta vào những công việc Chúa muốn (Ngày 26.1.1992)    
172. Càng lớn tuổi ta càng phải khiêm nhường hơn.  (Ngày 02.2.1992)
173. Người khiêm tốn nhận lỗi sẽ rất đẹp lòng Chúa. (Ngày 08.3.1992)
174. Khi làm việc phải khiêm tốn, vì biết được mười, ta chỉ làm được một thôi. (Ngày 08.5.1993)
175. Muốn sống hiền lành và khiêm nhường, ta hãy để ý cầu xin ơn này hằng ngày.  (Ngày 05.6.1993)
176. Càng được học biết nhiều, càng phải khiêm tốn.   (Ngày 17.10.1993).
177. Phải chịu khó nghe những người đi trước, đừng cứ làm theo ý của mình, không ai bảo được. Như vậy chẳng ai muốn dùng ta vào việc gì. (Ngày 17.101993)
178. Khiêm nhường là một trong những tư cách của trẻ nhỏ làm ta sống bình an. (Ngày 28.8.1993)
179. Các con tập sống bé nhỏ. Một đứa bé, nó rất dịu dàng, dễ bảo, nên ai cũng thích.   (Ngày 21.7.1996)
180. Dù ta ở địa vị nào, hay làm gì, ta đừng tỏ ra “ta đây”, vì chúng ta tất cả là chị em với nhau. (Ngày 01.9.1996)
181. Nhờ Mẹ đến với Chúa, đó là một thái độ khiêm nhường, và Chúa chỉ ban ơn cho người khiêm tốn mà chống lại kẻ kiêu ngạo. (Ngày 6.1.1995)
182. Hãy nhớ: ai cũng lỗi lầm. Vì thế, trong hết mọi trường hợp, ta hãy tỏ ra thật khiêm tốn, bé nhỏ, hiền lành, yêu thương, nhân từ đối với mọi người.  (Ngày 22.2.1995)
183. Trong Dòng Trinh Vương, người đáng kể là người có tinh thần bé nhỏ, biết nhìn nhận sự hư vô của mình để hoàn toàn phó thác cho Chúa.  (Ngày 02.4.1995)
184. Cứ hạ mình xuống dưới mọi người, ta sẽ được bình an.  (Ngày 08.01.1996)
185. Ta sống khiêm nhường, hiền lành, nhân từ , thì ai cũng qúy và đời sống sẽ nhẹ nhàng.   (Ngày 7.5.1995)

3. Yếu đuối,  bất lực, nghèo nàn

186. Đừng thất vọng về mình, nhưng để ý cầu xin cho ta biết từ bỏ mình. (Ngày 27.10.1991)
187. Nhờ tràng hạt ta xin được mọi ơn, hãy lợi dụng để xin ơn quên mình.( Ngày 27.10.1991)
188. Càng có tuổi đời, càng cố gắng, ta càng thấy mình bất lực.  (Ngày 23.7.1988)
189. Ai chưa cảm thấy mình bất lực thì chưa tiến lên được đâu. (Ngày 23.7.1988)
190. Theo gương chị thánh Têrêsa sống bé nhỏ thật sự : nhìn nhận mình nghèo nàn, không buồn khi thấy mình bất toàn.
(Ngày 24.9.1990)
191. Một người dù tội lỗi đến đâu, nhưng biết nhìn nhận thân phận tội lỗi của mình và nhìn lên Chúa với lòng cậy trông, thì đó là người bé nhỏ. (Ngày 08.9.1988)
192. Bắt chước trẻ nhỏ, dù bẩn thỉu… cứ nhảy vào lòng Mẹ, Mẹ sẽ làm ta nên trong sạch để dâng lên Cha trên trời.                  (Ngày 08.9.1988)
193. Chúa muốn chúng ta phải cầu nguyện để tỏ ra mình nghèo nàn, bất lực và cảm thấy cần Chúa. (Ngày 30.4.1989)
194. Tập nhìn ra sự bất lực của mình không phải để thất vọng mà để cậy trông vào Chúa hơn. (Ngày 22.3.1991)
195. Khi nào ta cảm thấy mình yếu đuối bất lực nhất thì sức mạnh của Chúa sẽ ùa vào trong ta. (Ngày 12.4.1992)
196. Thấy mình hay chia trí các con đừng buồn, vì Chúa muốn dùng những yếu đuối đó để giữ ta trong sự khiêm tốn.
 (Ngày 28.1.1996)
197. Ai càng cố gắng nên thánh, càng có kinh nghiệm về sự hèn yếu của mình. (Ngày 29.1.1996)
198. Trong phạm vi siêu nhiên, chúng ta rất bất lực, không thể làm được gì ! Nhưng chúng ta không phải lo sợ gì, vì luôn luôn có Mẹ ở bên. (Ngày 23.3.1996)
199. Chỉ có Chúa và Mẹ Bề Trên mới cứu vớt được sự yếu đuối, bất lực của chúng ta. (Ngày 09.7.1989)
200. Phải cảm thấy mình bất lực, chúng ta mới muốn trở nên Giêsu Ấu Thơ nằm ngủ trên cánh tay Mẹ. (Ngày 28.12.1996)
201. Chúa cho sống đến tuổi già rất tốt, vì ta thấy sự yếu đuối bất lực của mình, cả trong việc đọc kinh cầu nguyện, để ta bám lấy Chúa hơn. (Ngày 27.5.1995)

4. Tin tưởng

202. Mỗi ngày hãy cố gắng nhìn ra Mẹ quyền phép và yêu thương, để ta cậy trông vào Mẹ nhiều hơn.(Ngày 26.8.1990)
203. Khi nào chúng ta thất tín với mình để hoàn toàn tin tưởng nơi Mẹ, đó là lúc chúng ta tiến một bước rất đáng kể.  (Ngày 10.11.1989)
204. Nếu có chọn người làm bề trên, ta để ý chọn ai không cậy vào mình, nhưng cậy vào Chúa và Mẹ, tin vào các bề trên. (Ngày 12.4.1992)
205. Chúa yêu ta dù ta bất xứng. Ta hãy tin tưởng vào tình yêu ấy. (Ngày 31.5.1992)
206. Nếu ta luôn nhìn vào sự bất lực, nghèo nàn, yếu kém của mình, để hoàn toàn tin tưởng, phó thác cho Chúa,  thì chính Chúa sẽ làm cho ta nên thánh.  (Ngày 23.6.1996)
207. Các con tập để luôn có một tâm hồn bình an, phó thác và tin tưởng vào Chúa, để Chúa lo mọi sự cho. (Ngày 17.12.1992)
208. Khi ai được Chúa dùng, ta đừng sợ, Chúa sẽ ban Thần Khí xuống trên ta... Vậy ta hãy khiêm tốn, tin tưởng vào Chúa, đừng cậy vào sức mình.  (Ngày 21.3.1993)
209. Các con đừng lo lắng gì, vì ta có Chúa là Đấng giàu có vô cùng, Chúa sẽ lo cho ta mọi sự. (Ngày 21.2.1996)
210. Các con hãy tin vào lòng yêu thương của Chúa. Không phải Chúa chỉ yêu ta một lúc, nhưng muôn ngàn đời Chúa vẫn đầy lòng thương xót.   (Ngày 01.2.1996)
211. Khi Chúa để xảy đến cho ta cái gì, đau khổ hoặc chết cách nào, ta hãy tin vào sự quan phòng yêu thương của Chúa.       (Ngày 19.2.1989)
212. Dù khốn nạn đến đâu, và cảm thấy chán nản, không còn muốn làm gì nữa, ta hãy tin cậy vào lòng thương xót Chúa.
(Ngày 05.3.1989)
213. Khi đã tin vào tình yêu của Chúa, đời sống ta sẽ rất hạnh phúc, vì Chúa yêu ta bằng tình yêu không thay đổi .                        (Ngày 18.6.1989)
214. Mỗi khi ta cảm thấy mình thấp hèn tội lỗi, như muốn nghi ngờ lòng Chúa yêu, ta hãy thưa với Chúa: “Con tin Chúa yêu con”. (Ngày 18.6.1989)
215. Khi ta yêu Chúa Giêsu, tự nhiên ta sẽ tin tưởng, phó thác hoàn toàn cho Ngài.  (Ngày 29.9.1996)

5. Yêu mến

216. Không đứa con nào được cha mẹ yêu và yêu cha mẹ mạnh mẽ bằng đứa bé. (Ngày 03.9.1990)
217. Chúng ta nhớ: không có gì đáp ơn Chúa và Mẹ bằng chúng ta yêu mến các Ngài.  (Ngày 02.5.1996)
218. Chúng ta hãy luôn luôn ước ao làm đứa con bé nhỏ của Mẹ Maria, luôn nhớ đến Mẹ, sống bên Mẹ, không rời Mẹ lúc nào.
(Ngày 23.3.1996)
219. Đứa bé không biết làm gì, nó chỉ biết yêu. Bổn phận của nó chỉ là yêu, yêu một cách đơn sơ, ngay thẳng, không lắt léo  (Ngày 15.6.2001)
220. Hãy xin Chúa cho ta ơn yêu mến Mẹ như Chúa yêu. Nếu Chúa không ban cho ta ơn yêu Mẹ là làm nhục cho Chúa.
(Ngày 23.3.1996)
221. Muốn giữ đèn linh hồn có nhiều dầu tình yêu Chúa, cần phải có hy sinh. (Ngày 11.11.1990)
222. Cần cố gắng mỗi ngày tìm biết Chúa hơn, hiểu Chúa hơn và yêu Chúa hơn. (Ngày 02.12.1990)
223. Những tác động yêu mến là những cây củi giúp cho lửa yêu mến Chúa cháy lên trong ta. (Ngày 27.3.1991)
224. Mỗi tác động yêu mến là phương tiện tuyệt vời để tăng thêm tình yêu Chúa.    (Ngày 19.11.1990)
225. Những ai thuộc về Chúa, hết lòng yêu Chúa thì đáng qúy lắm.  (Ngày 25.8.1991)
226. Muốn đưa tình yêu Chúa vào tâm hồn thì phải đẩy tình yêu mình ra (Ngày 27.10.1991)
227. Lúc nào chúng ta cũng mong ước: hôm nay yêu Chúa hơn hôm qua.  (Ngày 02.2.1992)
228. Đừng coi những giờ cầu nguyện là bó buộc, nhưng ta phải hân hoan đến gặp Đấng Yêu Mến và phó mình cho tình yêu Chúa. (Ngày 18.2.1996)
229. Luôn hướng về Chúa, thế nào ta cũng tìm gặp được Chúa và yêu mến Ngài. (Ngày 02.5.1996)
230. Yêu Chúa hết lòng là sẵn sàng dâng cho Chúa tất cả mọi cái ta có: của cải, chính mình, cả đời này và đời sau. (Ngày 02.5.1996)
231. Trong mọi công việc, dù bận đến đâu ta cũng cố gắng hướng về Chúa. (Ngày 24.11.1996)
232. Ta phải tập nguyện lời yêu mến để sống thân mật và năng liên kết với gia đình thánh “Giêsu Maria Giuse” hơn.
    (Ngày 17.12.1992)
233. Chúa không mong gì khác ngoài một việc là chúng ta yêu mến Ngài. (Ngày 17.12.1992)
234. Đời sống này sẽ qua đi, chỉ có một cái còn tồn tại đó là yêu mến Chúa. (Ngày 01.1.1993)
235. Ta đừng thèm khát gì, ngoài việc trau dồi cho mình lòng yêu mến Chúa mỗi ngày một hơn. (Ngày 01.1.1993)
236. Hãy dùng tự do của ta để đáp lại tình yêu Chúa.  (Ngày 14.2.1993)
237. Bổn phận trên hết của ta là: yêu mến Chúa, sống cho Chúa.(Ngày 11.7.1993)
238. Việc nên thánh của chúng ta gồm tóm trong công thức: “Yêu Chúa và để cho Chúa yêu”. (Ngày 19.9.1993)


6. Cậy trông và Phó thác

239. Đôi cánh của lòng cậy trông là “thất tín với chính mình và cậy trông vào Chúa”. (Ngày 02.12.1990)
240. Khi chưa thất tín với mình, không thể cậy trông phó thác nơi Chúa được.  (Ngày 06.1.1991)
241. Bao lâu ta còn muốn lo cho mình, Chúa sẽ để mặc ta tự lo lấy. (Ngày 06.1.1991)
242. Nếu ta cậy trông vào Chúa, Chúa sẽ làm cho ta, mặc dù bên ngoài ta có bất lực, dốt nát. (Ngày 17.01.1993)
243. Khi dâng lễ hay đọc kinh, cầu nguyện riêng, hãy cậy trông vào lòng yêu nhân từ, thương xót và quyền năng vô biên của Chúa.  (Ngày 23.6.1993)
244. Các Bề Trên chỉ là dụng cụ của Mẹ Bề Trên. Mẹ soi sáng cho các Bề Trên phải nói, phải làm gì. Các con phải hiểu như vậy để trông cậy phó thác nơi Mẹ nhiều hơn. (Ngày 23.6.1993)
245. Càng thấy mình yếu đuối, chúng ta càng phải cậy trông vào Chúa và Mẹ nhiều hơn  (Ngày 12.2.1989)
246. Nếu ta biết phó thác cho Mẹ, Mẹ sẽ lo cho ta từng tí như lo cho một đứa con nhỏ.  (Ngày 14.4.1993)
247. Chúa sẵn sàng lo cho ta mọi thứ, chỉ cần ta lo tìm nước Chúa trước.  (Ngày 26.8.1990)
248. Việc nên thánh của chúng ta là phó thác hoàn toàn cho sự quan phòng của Thiên Chúa.  (Ngày 27.8.1989)
249. Việc  sống chết là do Chúa, ta cứ hoàn toàn phó thác cho Chúa.  (Ngày 14.1.1990)
250. Nhìn nhận sự bất lực của mình rồi chạy đến với Chúa và Mẹ, đó là thái độ khiêm tốn phó thác.  (Ngày 25.3.1990)
251. Khi đã nhận ra Chúa là Cha, Mẹ Maria là Mẹ, Chúa Giêsu là Anh Cả, ta sẽ phó thác trọn vẹn cho các Ngài.
(Ngày 05.7.1992)
252. Sống phó thác, ta sẽ không lo lắng gì và sẽ được bền vững trong ơn gọi.  (Ngày 05.7.1992)
253. Biết phó thác theo Ý Chúa, ta sẽ được bình an thực sự. (Ngày 17.12.1992)
254. Chỉ khi nào nhìn rõ thân phận hèn hạ của ta và biết phó thác, bám chặt vào Chúa, ta mới tiến trên con đường thánh thiện được. (Ngày 21.3.1993)
255. Chúng ta có Mẹ Maria là niềm cậy trông của ta. Một đứa bé được Mẹ dẫn dắt là bảo đảm nhất. (Ngày 02.01.2006)

7. Đơn sơ, cởi mở

256. Sống trong Dòng, cần sẵn sàng cởi mở tâm hồn và cuộc sống với các Bề Trên, để các vị giúp ta nên thánh. (Ngày 08.1.1989)
257. Ta hãy bắt chước một đứa bé trong gia đình, cái gì cũng chạy đến với mẹ, đơn sơ kể cho mẹ nghe đủ thứ.  (Ngày 25.4.1990)
258. Điểm hay của Dòng chúng ta là sống đơn sơ cởi mở với bề trên; bề trên và bề dưới sống với nhau dễ dàng.                             (Ngày 03.2.1991)
259. Các Bề Trên luôn lo cho các con nên thánh, vì vậy cần các con phải sống đơn sơ thành thực.  (Ngày 08.12.1991)
260. Với các Bề Trên, ta phải sống như những đứa em nhỏ, đừng quanh co dối trá.   (Ngày 18.7.1992)
261. Nếu các con có dốt nát quê mùa mà cứ đơn sơ thành thực thì cũng rất qúy. (Ngày 18.7.1992)
262. Ai cố tình quanh co dối trá, chữa mình thì lùi lại trong con đường thánh thiện xa lắm. (Ngày 18.7.1992)
263. Người có lỗi mà biết thành thực nhận lỗi thì rất đáng qúi. (Ngày 18.7.1992)
264. Cần các con phải cởi mở, thì các bề trên mới có thể giúp cho các con sửa lại những khuyết điểm để được nên giống Chúa hơn. (Ngày 25.10.1992)
265. Khi các con đi học hay làm việc, khi tiếp xúc với người ngoài, hãy về trình bày cho các Bề Trên biết, để được hướng dẫn cho biết điều gì được, điều gì không. (Ngày 16.6.1993)
266. Hãy sống bé nhỏ, thành thật, có thì nói có, không thì nói không. Đừng nói dối.  (Ngày 26.2.1995)
267. Sống cởi mở với nhau, với các bề trên là điều rất cần.  (Ngày 9.4.1995)
268. Sống trong Dòng Trinh Vương,ta phải sống rất thành thật. Như vậy mới thực hành tinh thần bé nhỏ của Dòng được.
(Ngày 21.5.1995)
269. Ta sống đơn sơ cởi mở, để các Bề Trên dễ dàng sửa bảo cho.  (Ngày 08.9.1991)
270. Sống bé nhỏ thì ta phải luôn sẵn sàng lắng nghe bề trên và nghe nhau, dễ dạy và dễ đón nhận. (Ngày 03.7.1988)
271. Cứ đơn sơ vâng lời rồi Chúa sẽ làm cho ta những việc lớn lao không ai ngờ được. (Ngày 18.12.1988)
272. Ai cũng thích trẻ thơ vì nó đơn sơ, dễ bảo. Ta hãy tập vâng lời đơn sơ như thế.   (Ngày 07.5.1996)
273. Muốn biết mình bé hay không, ta hãy để ý ngay đến việc mà Phúc Âm dạy ta: “Có thì nói có, không thì nói không” (Mt 5,37).  (Ngày 11.2.1990)

V. Sống đời tận hiến đúng nghĩa

1. Sự cao quý

274. Không gì đẹp lòng Chúa Giêsu bằng các con cố gắng sống đời tận hiến thật đúng nghĩa. (Ngày 18.12.1988)
275. Thiên Chúa và Giáo Hội rất yêu quý những linh hồn tận hiến. Các con hiểu vậy để biết quý và cố sống đúng ơn gọi của mình. (Ngày 8.01.1989)
276. Ta phải luôn nhớ “Tôi là một Chị Dòng”, còn tất cả các cái khác đều là phụ thuộc”. (Ngày 17.06.2000)
277.  Bậc sống thánh hiến cho Thiên Chúa rất cao quý. Do đó ta phải cố gắng là người thánh thiện chứ đừng là người tầm thường. (Ngày 25.3.1990)
278. Là những linh hồn thánh hiến, các con không còn được sống cho mình nữa, nhưng là sống cho Chúa và các linh hồn.
(Ngày 12.05.2001)
279. Ta vào Dòng để làm thánh, chứ không phải để làm công kia việc nọ.  (Ngày 25.3.1990)
280. Đừng để cái gì ngoài Chúa lôi kéo ta, và quyết tâm sống làm sao thật xứng với ơn Chúa kêu gọi chúng ta. (Ngày 25.8.1991)
281. Nếu không khao khát yêu Chúa, tìm Chúa, đó là ta đã ngừng tiến bước. (Ngày 08.07.2000)
282. Đời sống thánh hiến là quà tặng Chúa ban cho Giáo Hội. Nếu ai quyết tâm tu, thì đó là quà quý Chúa ban cho nhà Dòng.
(Ngày 14.7.1996)
283. Trong các cách dấn thân thì đời thánh hiến cao quý nhất. (Ngày 19.11.1996)

2.  Sống đúng ơn gọi

284. Còn sống ngày nào, đi đâu, ở đâu, làm gì, chúng ta cố gắng sống đẹp lòng Chúa bằng giữ trọn ba lời khấn.                    (Ngày 18.12.1988)
285. Đi tu, ta phải sống đúng địa vị một nữ tu.  (Ngày 5.4.1989)
286. Càng tu lâu, càng phải có tinh thần Dòng và càng phải thánh hơn.  (Ngày 8.1.1989)
287. Mỗi người hãy lo sống đúng ơn gọi của mình để đáng vào dự tiệc cưới đời đời. (Ngày 11.11.1990)
288. Trên đường thiêng liêng ta phải tiến luôn, không được ngưng nghỉ. (Ngày 23.8.1992)
289. Đời tu là công việc của tình yêu, nếu ta yêu mến Chúa thì đời sống ta sẽ nhẹ nhàng.  (Ngày 4.4.1993)
290. Nếu có đời sống bên trong, kết hợp với Chúa Kitô thì mọi việc ta làm đều có giá trị. (Ngày 6.1.1995)
291. Muốn cho Nhà Dòng tốt, thì mỗi người phải tốt.  (Ngày 10.9.1995)
292. Ta hãy sống đúng là một Chị Dòng, đừng để Chúa ở bên lề cuộc sống của ta, nhưng luôn sống mật thiết với Chúa.
(Ngày 18.07.2000)
293. Người có đức tin thì sẽ “không thiếu sót đối với ơn gọi nên thánh và sứ vụ tông đồ của họ”. (Ngày 9.8.1988)
294. Chị em nào cũng phải quyết tâm tìm cho được Đấng mình yêu mến. (Ngày 24.12.1995)
295. Điều làm cho người khác yêu mến, tôn trọng chúng ta là ta sống đúng nghĩa một Tu sĩ.  (Ngày 27.5.1990)

3. Trung thành

296. Phải nhìn nhận sự yếu đuối của mình để biết cầu nguyện và được vững vàng trong ơn nghĩa Chúa. (Ngày 12.3.1989)
297. Bền đỗ đến cùng là trung thành sống đúng ơn gọi  bậc mình.  (Ngày 9.12.1990)
298. Nếu yêu Chúa thật, ta sẵn sàng ở nhà Dòng dù phải đau khổ vất vả thế nào cũng được. (Ngày 22.9.1991)
299. Nếu không có ước muốn kết hợp với Chúa mãi thì đời sống sẽ trở nên lạnh lùng. Rất nguy hiểm ! (Ngày 20.10.1996)
300. Nếu cố tình bỏ ơn gọi, sống bừa bãi sẽ thiệt thòi cho phần rỗi ta vô cùng !  (Ngày 20.9.1992)
301. Chúng ta phải trung thành với Chúa cho dù cả thế gian có bỏ Chúa.  (Ngày 8.12.1992)
302. Điều qúi nhất, cao cả nhất trong một con người là lòng trung thành.    (Ngày 14.3.1993)
303. Thế giới càng ngày càng tục hóa thì chúng ta càng phải giữ vững niềm tin của mình vào Chúa.  (Ngày 8.5.1993)
304. Điều quan trọng là trung thành sống việc tận hiến đến chết. (Ngày 30.7.1995)
305. Nếu trung thành sống việc tận hiến, Chúa sẽ biến đổi chúng ta. (Ngày 19.11.1991)
306. Ai dùng tự do để sống đúng đời tận hiến là người đáng quý lắm. (Ngày 6.5.1990)
307. Chúng ta phải nhớ đến những điều cốt yếu khi tuyên khấn để đem ra sống và giữ lời khấn cho nghiêm chỉnh. (Ngày 31.12.1989)

VI. Sống ba lời khấn

1. Thanh Khiết

308. Ai không hết lòng yêu mến Chúa, dễ bị cám dỗ chạy theo tình yêu thế gian.   (Ngày 29.4.1990)
309. Đừng thích nghe những lời tán tỉnh, nịnh hót. (Ngày 29.4.1990)
310. Yêu Chúa, đó là bổn phận và hạnh phúc của đời ta. (Ngày 04.07.1991)
311. Tất cả những trường hợp sa ngã đều là thiếu cầu nguyện hay cầu nguyện cách máy móc, khô khan.(Ngày 25.5.1989)
312. Muốn giữ đức khiết tịnh phải tập sống đứng đắn. (Ngày 28.5.1995)
313. Phải làm sao để tình yêu Chúa luôn ám ảnh, thu hút ta. (Ngày 05.7.1990)
314. Nếu yêu Chúa thật, ta sẽ không sống ơ hờ với Chúa. (Ngày 05.7.1990)
315. Yêu Chúa, ta phải qui hướng tất cả về Chúa như Chúa Giêsu luôn qui hướng về Chúa Cha. (Ngày 05.7.1990)
316. Ta phải chiến đấu cả cuộc đời để giữ tình yêu của ta cho một mình Chúa. (Ngày 21.06.2003)
317. Chỉ có tình yêu mến Chúa, sống tận hiến cho Chúa là những điều đáng kể.  (Ngày 17.10.1993)
318. Tình yêu bằng cảm tình thì luôn thay đổi. Yêu bằng ý chí mới vững chắc. (Ngày 30.6.1990)
319. Chị em hãy quyết tâm một điều: luôn kết hợp với Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse bằng lời nguyện yêu mến.
(Ngày 05.06.2005)
320. Thánh là yêu Chúa đến tột độ, đến hoàn hảo.   (Ngày 16.8.1991)
321. Chúng ta chỉ yêu một mình Chúa thôi, nếu có yêu gì khác cũng yêu là vì Chúa. (Ngày 25.8.1991)
322. Chúng ta đã khấn rồi phải làm cho đời sống ta thành một việc thờ phượng liên lỉ. (Ngày 15.8.1991)
323. Muốn đưa tình yêu Chúa vào thì phải đẩy tình yêu mình ra.  (Ngày 27.10.1991)
324. Chỉ có tình yêu Chúa mới giữ được ta cho Chúa. (Ngày 5.7.1992)   
325. Càng nhiều tình yêu thì công việc càng đáng kể.  (Ngày 02.8.1992)
326. Muốn yêu chị em như Chúa đã yêu, ta phải yêu Chúa hết lòng, hết sức, trên hết mọi sự.(Ngày 23.6.1996)
327. Đi tu để tìm gặp Đấng chúng ta yêu mến, nên ai còn tìm cái gì khác ngoài Chúa, là đi trệch đường.   (Ngày 30.11.1996)
328. Đừng thèm khát gì, ngoài việc trau dồi cho mình lòng yêu mến Chúa mỗi ngày một hơn.  (Ngày 01.1.1993)
329. Là những linh hồn tận hiến, ta phải yêu mến Chúa để đền bù lại những tội lỗi người ta xúc phạm đến Chúa. (Ngày 03.1.1993)
330.  Khi có tình yêu, người ta sẽ hoạt động, vì tình yêu luôn luôn hoạt động.   (Ngày 14.11.1993)
331. Hãy dâng Mẹ lên Chúa và dâng Chúa Giêsu cho Mẹ. Chỉ có thế chúng ta mới yêu Chúa xứng đáng được.  (Ngày 08.2.1996)
332. Khi đến với Chúa và Mẹ, ta thưa: “Con tin Chúa yêu con”, “Con tin Mẹ yêu con”, lời đó làm cho các Ngài rất thích.
 (Ngày 18.2.1996)
333. Hãy khát khao yêu Chúa hơn mãi (Ngày 23.10.1999)
334. Càng hiểu được tình yêu Chúa, chúng ta càng sẵn sàng đáp lại tình yêu của Ngài. (Ngày 24.9.1996)
335. Mỗi ngày ta phải hối cải và quyết tâm “hôm nay yêu Chúa hơn hôm qua”.   (Ngày 10.10.1996)
336. Hãy xin Mẹ giúp ta sống thân mật với Chúa, tự sức riêng ta không làm nổi việc này đâu. (Ngày 10.1.1993)
337. Cuộc đời chúng ta chỉ có một việc duy nhất phải làm là yêu mến Chúa (Ngày 17.10.1993)
338. Mọi việc ta làm cũng phải phát xuất từ tình yêu Chúa thì mới có giá trị. (Ngày 17.10.1993)

2. Khó Nghèo

339. Vì yêu, Chúa Giêsu, Đấng giàu có vô cùng đã trở nên nghèo vì ta, nên ta tự nguyện sống nghèo để nên giống Chúa.
(Ngày 01.9.1995)
340. Nếu đôi khi chúng ta phải thiếu thốn những cái cần hay cái thích, hãy nhớ: Chúa Giêsu là Đấng nghèo khó không có nơi gối đầu. (Ngày 09.7.1995)
341. Khi đã tình nguyện trở nên nghèo khó như Chúa Giêsu, ta đừng quyến luyến những cái đời này (Ngày  31.1.1993)
342. Để được Chúa lo cho mãi mãi, chúng ta phải sống lời khấn khó nghèo thật chu đáo. (Ngày 3.5.1991)
343. Nếu  có của cải, mà vì yêu mến Chúa, chúng ta sẵn lòng từ bỏ thì đó là người thực lòng với Chúa. (Ngày 3.5.1991)
344. Đã tự nguyện khấn khó nghèo, ta phải sống sao cho người ta nhận thấy ta giống Chúa Giêsu nghèo. (Ngày 3.5.1991)
345. Sống khó nghèo với tinh thần trẻ thơ là không có gì làm của riêng, không có gì dự trữ, tất cả những gì nó có là do cha mẹ.
(Ngày 3.5.1991)
346. Khấn khó nghèo mà lúc nào cũng đầy đủ, bệnh là lo chữa ngay, như thế đâu phải là khó nghèo. (Ngày 01.04.2001)
347. Khấn khó nghèo, ta đã phó thác cho Hội Dòng thì để Nhà Dòng lo cho, ta đừng tự lo. (Ngày 12.6.1993)
348. Ở đâu, dùng gì, ăn uống gì, ta hãy lo cho hợp tinh thần khó nghèo, cần phải nghĩ đến người nghèo. (Ngày 13.05.2001)
349. Chúng ta khấn khó nghèo, từ bỏ tài sản đời này để có một kho báu trên trời. (Ngày 12.8.1988)
350. Đã khấn khó nghèo phải giữ cho đúng và vững vàng, nhờ đó Hội Dòng cũng được bền vững. (Ngày 27.01.2001)
351. Nếu chúng ta cứ ca tụng đức khó nghèo mà lại không giữ, cũng chẳng qúy gì. (Ngày 12.8.1988)
352. Cha không muốn nhận viện trợ của ai. Cha cứ phó mặc Chúa, Chúa lo cho hết. (Ngày 07.12.1988)
353. Hãy sẵn sàng trở nên trần trụi vì yêu Chúa Giêsu. (Ngày 27.01.2001)
354. Người đời cho giàu có là nhất. Nhưng vì yêu Chúa Giêsu, ta hy sinh sống khó nghèo. Giá trị của ta ở chỗ đó. (Ngày 12.2.1989)
355. Hằng ngày hãy xét mình lại để đừng đi trệch ra ngoài ba lời khấn, nhất là lời khấn khó nghèo. (Ngày 30.4.1995)
356. Dòng chúng ta, chị em đã đồng ý bỏ luôn cả quyền sở hữu, không còn của gì riêng nữa. Đây là một việc khó nhưng thật là cao đẹp.  (Ngày 27.5.1990)
357. Về mặt kinh tế, Dòng chúng ta giống như cái bình thông nhau: cùng hưởng, cùng chịu.  (Ngày 25.4.1989)
358. Giữ đúng nguyên tắc bình thông nhau, chúng ta sẽ giữ được đức bác ái giữa chị em trong Dòng.  (Ngày 09.12.1989)
359.  Dòng chúng ta cố gắng bắt chước đời sống của các tín hữu sơ khai: bỏ mọi sự làm của chung.  (Ngày 09.12.1989)
360. Một khi đã khấn khó nghèo, ta cứ sống như một đứa bé, để mặc các bề trên lo cho. (Ngày 07.5.1990)
361. Nếu chúng ta sợ thiếu thốn thì  đâu còn tinh thần phó thác nữa. (Ngày 30.4.1989)
362. Để thực hành lời khấn khó nghèo cách trọn hảo, cần chúng ta phải có tâm hồn bé nhỏ lệ thuộc. (Ngày 13.11.1989)
363. Khi chúng ta đi xin đồ dùng là tỏ dấu chúng ta lệ thuộc. (Ngày 13.11.1989)
364. Các con phải giữ khó nghèo tận đáy lòng mới xứng đáng với Chúa. (Ngày 6.1.1991)
365. Chúng ta đừng muốn có cái gì khác chị em. (Ngày 3.5.1991)
366. Những của người ta tặng làm kỷ niệm, chúng ta đem nộp hết. Có hy sinh lớn lao thì mới bộc lộ một tình yêu lớn lao.
 (Ngày 3.5.1991)
367. Chúng ta có cái gì, làm được gì, ta góp vào nhà Dòng, đó là ta dâng hiến cho Chúa. (Ngày 3.6.1991)
368. Đừng vịn vào những lý do trần gian, những đòi hỏi của riêng mình để không giữ những điều mình đã khấn. (Ngày 27.10.2001)
369. Ta hãy vui vì được sống nghèo, và sống nghèo vì yêu Chúa Giêsu. (Ngày 15.8.1991)
370. Chúng ta nhớ rằng : khi nào của vào Chúa sẽ ra. (Ngày 30.5.1996)
371. Ta đừng sẻn so với Chúa bất cứ cái gì.  (Ngày 03.6.1990)
372. Chúng ta chẳng có của gì đáng gọi là từ bỏ để theo Chúa Giêsu, nhưng cần ta phải có tinh thần từ bỏ.                          
(Ngày 03.6.1990)
373. Vật gì ta cảm thấy yêu thích, ta đem nộp ngay để khỏi dính vào nó.   (Ngày 18.11.1991)
374. Đừng ngại đi xin phép để sử dụng vật gì, hay cho nhau, hoặc cho người khác của gì. (Ngày 28.10.2001)
375. Các con bắt chước thánh Phaolô: tập để ăn được mọi thứ, ở được mọi nơi. (Ngày 09.2.1989)
376. Khi chúng ta thiếu thốn gì, cứ thành thật thưa với những người có trách nhiệm, đừng bàn tán cằn nhằn.  (Ngày 11.2.1989)
377. Chúng ta cố gắng giữ nguyên tắc: “Không xin gì vừa ý, không chối gì trái ý”, “Ăn những thứ người ta đặt cho”.(Ngày 14.3.1995)

3. Vâng Phục

378. Nhà Dòng nào có sự vâng lời ngoan ngoãn, nhà Dòng đó sẽ có sự êm đềm, vui vẻ.   (Ngày 29.1.1995)
379. Tập sống dễ dãi để Chúa xếp đặt cho ta thế nào tùy ý Chúa, đừng muốn khôn hơn Chúa. (Ngày 19.11.1991)
380. Có giữ Lời Khấn vâng lời ta mới dễ dàng giữ lời khấn khó nghèo và khiết tịnh.  (Ngày 26.4.1992)
381. Vâng lời nhiều khi rất khó, có khi vô lý và làm ta đau khổ ! Nhưng chính Chúa Giêsu đã vâng lời và vâng lời cho đến chết (Ngày 19.2.1995)
382. Nhà Dòng chúng ta chỉ vững khi mọi người đều cố gắng vâng lời.  (Ngày 09.02.1989)
383. Muốn biết ai thánh, ta đừng xét xem họ có vào nhà thờ rũ rĩ đọc kinh không, nhưng là xem họ có vâng lời vui vẻ không.
(Ngày 20.11.1990)
384. Chúng ta phải thận trọng, đừng dễ bỏ giờ chung. Ai coi thường sẽ bị thiệt hại lớn lắm. (Ngày 02.4.1989)
385. Làm việc gì, các con hãy làm vì vâng lời và có sự thỏa thuận với nhau.  (Ngày 15.11.1992)
386. Càng khấn trọn lâu năm, các con càng phải vâng lời mau mắn hơn. (Ngày 08.1.1989)
387. Chỉ khi nào ta biết  vâng theo Ý Chúa và nhận ra mọi sự là do Chúa xếp đặt, thì ta mới vui, mới thánh được. 
(Ngày 14.1.1990)
388. Muốn biết ta có làm việc vì Chúa hay không, hãy xem khi ý Bề Trên hay vì hoàn cảnh phải thay đổi công việc, ta có vui vẻ đón nhận hay không.  (Ngày 26.2.1990)
389. Dù có lớn tuổi đến đâu, các con cũng tập để sẵn sàng vâng lời.  (Ngày 05.3.1990)
390. Ta đi tu, cái qúy không ở chỗ khéo nói, nhưng ở chỗ vâng lời. (Ngày 06.5.1990)
391. Những con người theo ý riêng sẽ phải loại khỏi nhà Dòng. (Ngày 6.1.1991)
392. Các con tập cho mình biết vâng lời, kẻo ai  cũng thích ra lệnh mà không chịu vâng lời.    (Ngày 8.9.1991)
393. Càng phục vụ Hội Dòng nhiều, ta càng sung sướng. Nhưng cần ta phải luôn phục vụ trong sự vâng lời. (Ngày 28.6.1992)
394. Sống trong Dòng, để giữ được sự hợp nhất, ta hãy vâng lời các Bề Trên.   (Ngày 20.9.1992)
395. Đừng bao giờ ta cho mình là hay hơn các Bề Trên, để rồi muốn chị em làm theo ý ta.  (Ngày 20.9.1992)
396. Các con phải làm sao để cho đức vâng lời của ta được bền vững mới có giá trị.  (Ngày 01.1.1993)
397. Đừng tự chọn cho mình cái gì, trái lại ta hân hoan đón nhận tất cả những gì Chúa chọn cho ta. (Ngày 13.6.1993)
398. Hãy sống tận hiến, để Chúa sử dụng ta vào việc gì cũng được.  (Ngày 13.6.1993)
399. Cố gắng có cùng một lòng, một ý với các bề trên.       (Ngày 27.07.2001)
400. Hãy nhìn Chúa trong các bề trên, dù người đó có xấu xí, khuyết điểm, nhưng là người Chúa đặt lên, ta hoàn toàn vâng phục. (Ngày 21.11.1995)
401. Nếu các bề trên ngoan ngoãn theo ơn Chúa, và các bề dưới biết vâng phục các bề trên, thì mọi công việc sẽ thành công. 
(Ngày 6.1.1991)
402. Điều tốt đẹp nhất là : nếu không làm bề trên, ta cứ vâng lời.   (Ngày 12.2.1989)
403. Đừng bao giờ vạy vọ xin bề trên cho ta làm việc gì theo sở thích.  (Ngày 8.2.1989)
404. Ta hãy tập cho quen nhìn Chúa trong các bề trên, để có một sự kính trọng đối với các Ngài. (Ngày 19.11.1992)
405. “Người vâng lời không bao giờ sai lầm”.   (Ngày 21.11.1995)
406. Nếu Bề Trên truyền cho ta làm gì mà không phải là tội rõ ràng, ta cứ vâng lời.  (Ngày 21.11.1995)
407. Đi cộng đoàn nào các con cũng hãy nghĩ : Chúa muốn tôi đến đây để vâng lời, và nhờ vâng lời tôi sẽ nên thánh.
   (Ngày 18.12.1988)
408. Làm bất cứ việc gì, các con cũng cố làm đến nơi đến chốn chỉ vì vâng lời.  (Ngày 22.1.1989)
409. Những người không vâng lời là do thiếu lòng yêu Chúa, yêu Mẹ Maria.    (Ngày 15.8.1991)
410. Đừng bao giờ để cho ý riêng, lòng tự ái điều khiển cuộc sống ta. (Ngày 27.07.2001)
411. Hãy sống vâng phục theo đức tin, ai là người Chúa đặt lên, ta hãy vâng phục.        (Ngày 14.3.1989)
412. Cứ vâng lời rồi Chúa sẽ làm những việc lớn lao không ai ngờ.  (Ngày 18.12.1988)
413. Càng khó vâng phục mà càng cố gắng vâng phục thì càng thánh.  (Ngày 19.2.1989)            
414. Người luôn cố gắng vâng lời trọn hảo là người trưởng thành trong đời tu.    (Ngày 9.12.1990)
415. Một vị thánh thì sẵn sàng ở bất cứ nơi đâu, ở bao lâu Chúa muốn. (Ngày 8.2.1989)
416. Bổn phận của một nữ tu là vâng lời, ta vâng lời là nên thánh rồi. (Ngày 05.6.1993)
417. Gặp bề trên khó tính, làm trái ý ta thì càng giúp ta nên thánh nhanh.    (Ngày 13.8.1988)
418.  Những ai sống vâng phục, đó là con người bé nhỏ, thiện chí, sống đời tận hiến đúng nghĩa. (Ngày 1.6.1990)
419. Không ai có sự dễ dàng để sống liên lỉ theo thánh ý Chúa bằng một tu sỹ sống trong đức vâng lời. (Ngày 1.6.1990)
420. Được vào Dòng, đó là điều qúy vô cùng. Vậy ta cố gắng sống vâng lời để được nên thánh to. (Ngày 1.6.1990)
421. Phải coi “Hiến Chương” là hồng ân Chúa ban, trong đó có những điều buộc ta giữ để nên thánh. (Ngày 22.4.1995)
422. Ai càng giữ Hiến Chương chu đáo càng thánh. (Ngày 22.4.1995)
423. Hiến Chương giúp ta đủ mọi phương tiện để nên thánh, vì thế, ta phải đọc rất thận trọng từng câu, đồng thời cầu xin Chúa giúp ta tuân giữ.  (Ngày 22.4.1995)

VII. Lời Chúa

1.  Suy  ngắm Lời Chúa
424. Phúc Âm là chứng từ rõ ràng nhất về Chúa Giêsu và về Thiên Chúa. Ta năng đọc và suy ngắm thận trọng.(Ngày 7.5.1995)
425. Muốn sống tinh thần Phúc Âm, các con chịu khó đọc và suy niệm Phúc Âm cách thận trọng. (Ngày 4.2.1996)
426 . Hãy suy nghĩ Lời Chúa để đừng coi của đời này là hạnh phúc, nhưng tha thiết tìm cho được Chúa Giêsu là gia nghiệp của ta. (Ngày 12.9.1984)
427. Những ngày Chúa Nhật, các con để ý suy ngắm Lời Chúa tử tế, để giáo lý Kinh Thánh mỗi ngày đi sâu vào tâm khảm và đời sống ta. (Ngày 25.6.1989)
428. Các con cố gắng suy ngắm và sống Lời Chúa. Lời Chúa đưa lại cho ta nhiều an ủi lắm. (Ngày 07.5.1995)

2. Sống Lời Chúa

429. Chúng ta chưa nên thánh, chưa tiến được bước nào trên đường yêu mến Chúa, là vì chúng ta chưa bé nhỏ để đón nhận và dễ dạy đối với Lời Chúa. (Ngày 08.9.1988)
430. Phải qúi trọng Kinh Thánh, vì Kinh Thánh mạc khải cho chúng ta về Thiên Chúa và những gì thuộc về Ngài. (Ngày 6.6.1975)
431. Thực hành Lời Chúa, đó là cách đáp lại tình yêu Chúa hữu hiệu nhất. (Ngày 28.6.1984)
432. Sống Lời Chúa là biểu lộ tình yêu, là sống trong tình yêu, là đáp lại tình yêu Chúa. (Ngày 28.6.1984)
433. Các con phải tôn trọng Lời Chúa bằng nghe Lời Chúa cách thận trọng, cất Sách Kinh Thánh vào chỗ xứng đáng.
      (Ngày 12.2.1995)
434. Lời Chúa quan trọng và quí báu lắm! Chúng ta đã được thông phần sự sống Thiên Chúa, ta phải nuôi sự sống đó bằng Lời Chúa. (Ngày 12.2.1995)
435. Mỗi ngày chị em phải đọc 5 đến 10 phút Lời Chúa. (Ngày 11.4.1980)
436. Chúng ta phải tin Lời Chúa là Lời Hằng Sống, nghĩa là dù trời đất có qua đi, nhưng Lời Chúa vẫn không qua.      
(Ngày 28.7.1991)
437. Lời Chúa rất qúi báu, chỉ có Lời Chúa mới đáng kể, mới là hạt trai qúi nhất đáng chúng ta tìm kiếm. (Ngày 29.4.1990)
438. Lời Chúa, đó là kho tàng đầu tiên của chúng ta.  (Ngày 28.4.1996)
439. Mỗi lần nghe Lời Chúa, chúng ta phải thận trọng để cho Lời Chúa ghi rõ trong trí, trong lòng và trên môi miệng ta.
(Ngày 6.12.1978)
440. Chúa Giêsu đã bảo: Chỉ có một việc cần là nghe Lời Chúa và sống Lời Chúa. Nếu các con sống Lời Chúa, mọi việc sẽ tốt đẹp. (Ngày 27.11.1988)
441. Việc làm hằng ngày của chúng ta là cố gắng sống Lời Chúa.  (Ngày 01.1.1989)
442. Các con phải khiêm nhường sống theo Lời Chúa thì mới tránh được những chuyện lôi thôi. (Ngày 29.1.1989)
443. Mỗi ngày hay ít là mỗi tuần chúng ta tập nhớ lấy một Lời Chúa, để suy đi nghĩ lại và đưa ra thực hành trong đời sống.
(Ngày 14.7.1996)
444. Đi đâu, ở đâu chúng ta cũng nhớ thực hành Lời Chúa, vì Lời Chúa là “Lời của sự sống”, “Lời ban sự sống”...                     
(Ngày 14.7.1996)
445. Ta phải thực thi Lời Chúa để được sống và được hạnh phúc. (Ngày 11.7.1993)
446. Nghe Lời Chúa, chúng ta rút ra những bài học để sống, như “người khôn ngoan biết lợi dụng cái mới lẫn cái cũ trong kho tàng của mình”. (Ngày 3.8.1996)
447. Các con hãy sống Phúc Âm để bắt chước Chúa : nghĩ như Chúa nghĩ, làm như Chúa làm, yêu như Chúa yêu.                 (Ngày 3.9.1984)
448. Hãy tập sống cao cả theo tinh thần Phúc Âm. (Ngày 8.10.1989)
449. Đọc Phúc Âm để biết ý Chúa. Khi đã biết ý Chúa chúng ta sẽ muốn như Chúa muốn. (Ngày 4.3.1995)
450. Nghe Lời Chúa, nếu không tha thiết với Chúa, không hết lòng yêu Chúa, sẽ chẳng để ý gì và chẳng được gì cả. (Ngày 3.8.1996)
451. Sống Lời Chúa chứ đừng sống lời người ta, vì Chúa đã nói: dù trời đất có qua đi, Lời Chúa cũng không sai một chấm một phảy. (Ngày 4.9.1993) 

3. Cải thiện đời sống theo Phúc Âm

452. Hãy cố gắng cải thiện đời sống theo ánh sáng Lời Chúa và chịu khó áp dụng Lời Chúa trong từng chi tiết của đời sống.
(Ngày 18.8.1984)
453. Các con hãy để cho Lời Chúa phá đổ những gì cũ kỹ nơi con người của ta. (Ngày 5.8.1984)
454. Chỉ có Lời Chúa mới thay đổi được đời sống con người.  (Ngày 01.1.1989)
455. Lời Chúa đi vào trong ta như giòng nước có sức thanh tẩy tâm hồn ta. (Ngày 30.4.1989)
456. Chỉ có Lời Chúa mới là Lời Hằng Sống có sức biến đổi chúng ta. (Ngày 09.12.1989)
457. “Lời Chúa như gươm hai lưỡi” gọt dũa đủ cách để biến đổi chúng ta nên con người mới. (Ngày 14.7.1996)
458. Trong mùa chay chúng ta cố gắng nghe Lời Chúa nói với ta qua Giáo Hội để sám hối - canh tân. (Ngày 27.2.1996)
459. Để sám hối cách hữu hiệu các con hãy để ý nghe Lời Chúa. (Ngày 16.7.1996)
460. Mỗi khi đến nghe Lời Chúa, rước Mình Máu Chúa, các con làm sao cho mình đổi mới hơn một chút, (Ngày 16.7.1996)
461. Chúng ta muốn sám hối, canh tân cách tích cực phải đưa Lời Chúa ra thực hành. (Ngày 31.12.1996)
462. Lời Chúa ta nghe hằng ngày sẽ hoạt động và biến đổi làm cho tinh thần ta mỗi ngày một cao hơn. (Ngày 15.12.1996)
463. Điều trước hết ta phải lo là Phúc Âm hóa chính mình. Đừng bỏ rơi một lời nào của Chúa như Samuel. (Ngày 19.10.1995)
464. Chúng ta cũng hãy tập biết lấy lời Chúa mà chiến đấu, mà nói chuyện với nhau cho quen. (Ngày 3.12.1988)
465. Khi ta sống theo Tin Mừng thì đau khổ luôn đi kèm theo ta. (Ngày 25.12.1990)

4.  Mọi hoạt động của ta phải dựa trên Lời Chúa

466. Hãy tập làm cho mọi hoạt động của chúng ta đều phải dựa trên Lời Chúa, như thế đời sống mới có giá trị.              
(Ngày 17.10.1982)
467. Khi đã có nền vững trên Lời Chúa rồi, ta không còn sợ bất cứ một sóng gió, thử thách nào. (Ngày 17.10.1982)
468. Hãy tập cho mình luôn có phản ứng theo Lời Chúa: nói năng, thư từ với ai cũng biết đưa Lời Chúa đến cho họ.             
(Ngày 17.10.1982)
469. Đi đâu chúng ta cũng sống Lời Chúa, nói gì ta cũng dựa vào Lời Chúa để nói.  (Ngày 31.12.1996)
470. Hãy cố sống Lời Chúa để có thể nói Lời Chúa cho người khác. (Ngày 31.12.1996)

5. Tin vào Lời Chúa

471. Chúng ta cứ sống theo Lời Chúa đi rồi Chúa sẽ làm những sự lạ lùng cho chúng ta. (Ngày 24.10.1993)
472. Chúng ta không được phép lạ vì chúng ta chưa tin vào Lời Chúa.(Ngày 24.10.1993)
473. Không có tâm hồn bé nhỏ, khiêm tốn không thể đón nhận Lời Chúa được. (Ngày 3.8.1996)
474. Lời Chúa làm cho chúng ta được trong sạch và nên thánh. (Ngày 11.7.1993)
475. Chúng ta đi tu nếu không yêu Chúa, không tìm sự nâng đỡ ở Lời Chúa, sẽ rất cô đơn.(Ngày  29.4.1989)
476. Nếu ta tin Lời Chúa quyền năng thì đừng còn lo gì nữa. (Ngày 17.6.1990)
477. Lời Chúa đem lại sự sống, sức mạnh cho ta. (Ngày 24.10.1993)
478. Lời Chúa giúp chúng ta sống mật thiết với Chúa, tin tưởng vào Chúa hơn. (Ngày 15.12.1995)
479. Lời Chúa soi sáng, thanh tẩy và giải thoát chúng ta. (Ngày 27.2.1996)
480. Chúa bảo : “Đừng lo về của ăn, áo mặc...” Nếu ta tin vào Lời Chúa ta sẽ không lo lắng, cũng không sợ túng thiếu.    (Ngày 24.10.1993)
481. Muốn biết ai thánh, cứ xem họ thực hành Lời Chúa thế nào.
(Ngày 12.2.1989)
482. Giá trị đích thực của chúng ta hệ ở chỗ sống theo Lời Chúa. (Ngày 12.2.1989)

6. Hát Lời Chúa 

483. “Càng ngày Cha càng thấy Lời Chúa ý vị ngọt ngào. Vì thế Cha chỉ thích hát  Lời Chúa thôi”. (Ngày 07.9.1984)
484. Những bài hát, nên chọn những bài Lời Chúa, đừng hát theo tính hiếu kỳ.   (Ngày 16.4.1995)
485. Ta cầu nguyện bằng những bài hát Lời Chúa sẽ giúp ta dễ nâng tâm hồn lên với Chúa. (Ngày 16.4.1995)

7. Lời Chúa là bức thư tình

486. Mỗi khi nghe đọc những bài Kinh Thánh ta hãy hết sức chú ý lắng nghe, vì “đó là Lời Chúa”, hơn nữa, là bức thư tình.
(Ngày 12.3.1995)
487. Các con hãy cố trung thành đọc Phúc Âm, dù Phúc Âm không có lời ngọt ngào như những bức thư tình ở ngoài thế gian; thư tình thế gian đưa ta đến sự chết, còn Lời Chúa sẽ ban sự sống cho ta. (Ngày 1.1.1984)
488. Hãy bắt chước Mẹ Maria, đọc và suy gẫm Lời Chúa, để thấy Chúa yêu ta chừng nào. (Ngày 27.02.1996)
489. Kinh Thánh là bức thư tình Chúa gởi cho chúng ta, mỗi ngày hãy xem Người Tình của ta nói gì ! (Ngày 15.12.1995)
490. Mỗi trang Phúc Âm là một câu chuyện tình Chúa nói với chúng ta, hãy để ý đọc từng câu, từng chữ cách thận trọng.
(Ngày 15.12.1995)
491. Càng đọc Kinh Thánh chúng ta càng thấy lòng yêu thương của Chúa và quyết tâm trung thành với Chúa; đồng thời thấy sự thay đổi của lòng người. (Ngày 25.2.1996)

VIII. Thánh Lễ và Thánh Thể

1. Quý trọng tiệc Thánh Thể
492. Điều sung sướng phải luôn nghĩ đến là ngày nào chúng ta cũng được dự tiệc Lời Chúa và Mình Chúa. (Ngày 07.4.1991)
493. Khi ăn tiệc chúng ta “cầm trí” thế nào, thì khi dự tiệc Mình Máu Chúa, cũng phải ý thức như thế. (Ngày 07.4.1991)
494. Trong Thánh Lễ,  Lời Chúa dẫn ta đến với Mình Chúa. (Ngày 17.7.1990)
495. Lời Chúa, Mình Thánh Chúa là hai của ăn tuyệt vời. (Ngày 3.10.1996)
496. Khi đến dự hai bàn tiệc Lời Chúa và Mình Chúa, ta phải rất thận trọng, chớ coi thường. (Ngày 18.7.1995)
497. Dự tiệc Lời Chúa và Mình Chúa làm cho linh hồn ta được khoẻ mạnh hơn lên. (Ngày 13.9.1992)
498. Mỗi ngày dự tiệc Thánh Thể sốt sắng, linh hồn sẽ lớn lên trong đời sống thiêng liêng. (Ngày 13.9.1992)
499. Ở trong nhà Dòng, hạnh phúc của chúng ta là được dự tiệc Mình Máu Chúa hằng ngày. (Ngày 13.9.1992)
500. Được mời dự tiệc Mình Chúa và Lời Chúa, đó là một vinh dự lớn lao, chúng ta phải để ý tham dự. (Ngày 13.9.1992)
501. Ngày nào được rước lễ hai lần, các con phải cẩn thận chuẩn bị kỹ lưỡng.  (Ngày 26.4.1992)
502. Mỗi lần rước lễ, có Chúa ở trong ta và ta được ở trong Chúa, còn gì hạnh phúc và vững chắc hơn !(Ngày 9.8.1992)
503. Lời Chúa : “Hạnh phúc của Ta là được ở với con cái loài người”. Như thế Chúa chỉ mong ta đón rước Ngài ngự đến với lòng ta, hầu biến đổi ta. (Ngày 9.3.1992)
504. Thánh Lễ phải là trung tâm đời ta, như những người yêu nhau trở nên trung tâm cho nhau.  (Ngày 12.5.1991)
505. Không có lời cầu nguyện nào  quý bằng Thánh Lễ, vì có Chúa Giêsu cầu nguyện trong ta, với ta, cho ta và bởi ta.
    (Ngày 10.9.1995)
506. Càng yêu Chúa chúng ta càng ham thích tham dự vào “Mầu Nhiệm Tình Yêu”. (Ngày 15.10.1995)
507. Thánh lễ là nguồn ơn phúc đổ tràn xuống cho chúng ta, chúng ta cố gắng “hấng lấy” kẻo hoài.  (Ngày 15.10.1995)
508. Hằng ngày được dâng Thánh Lễ với nhau, không có gì sung sướng hơn.  (Ngày 26.1.1992)
509. Khi dâng Thánh Lễ, chúng ta phải thâm tín rằng : Không có lời cầu nguyện nào bằng Thánh Lễ.  (Ngày 24.1.1993)
510. Tu Sỹ được dành riêng cho việc thờ phượng, mà việc thờ phượng trên hết là thánh Lễ.(Ngày 24.1.1993)
511. Sống tinh thần của Thánh lễ là phải chết đi cùng với Chúa Kitô. (Ngày11.4.1993)
512. Để dâng lễ tích cực chúng ta phải đưa đời sống vào Thánh Lễ và đưa Thánh Lễ vào đời sống. (Ngày 4.8.1993)
513. Đưa Thánh Lễ vào đời sống, nghĩa là biến những hy sinh của ta thành của lễ. (Ngày 11.4.1993)
514. Các con đừng coi việc dâng lễ và cám ơn rước lễ là việc bó buộc. (Ngày 29.8.1995)
515. Thánh lễ rất quan trọng, các con đừng vì lý do gì mà làm cho giờ dâng thánh lễ qua đi vô ích, hoặc bỏ  dâng lễ hay tham dự cách uể oải. (Ngày 01.03.1996)
516. Sống Thánh Lễ là ta sống đời tùng phục và chết đi với Chúa Giêsu. (Ngày1.3.1988)
517. Giờ dâng Thánh Lễ, chúng ta phải coi đó là giờ hết sức quan trọng, không việc gì có thể át đi được.   (Ngày 27.5.1990)
518. Dâng Thánh lễ, rước lễ, cám ơn rước lễ là những việc chúng ta phải làm hết sức thận trọng. (Ngày 27.5.1990)
519. Các con hãy thận trọng Dâng Lễ hằng ngày, để nói lên tinh thần đức tin của chúng ta trong việc quý trọng Thánh Lễ.
(Ngày 17.11.1992)

2. Năng viếng Thánh Thể

520. Hãy tin vào sự hiện diện của Chúa nơi Bí Tích Thánh Thể, và hãy cầu nguyện cho niềm tin đó mỗi ngày một sáng tỏ hơn.
     (Ngày 4.5.1995)
521. Chúa Giêsu Thánh Thể yêu ta say sưa điên cuồng, Chúa thấy bóng ta đến với Chúa, Chúa sung sướng lắm.(Ngày 11.5.1995)
522. Muốn sống thân mật với Chúa, chúng ta hãy năng thưa chuyện với Chúa, năng đến gặp Chúa Giêsu trong linh hồn và trong Bí Tích Thánh Thể.   (Ngày 12.2.1995)
523. Các con tập sống với chúa Giêsu hiện diện trong Thánh Thể. Chỉ một mình Chúa mới làm vừa lòng, thoả mãn các con.    
(Ngày 11.6.1995)
524. Khi đến với Chúa mà chúng ta cảm thấy mình quá nghèo nàn,  hãy dâng Mẹ Maria lên Chúa. (Ngày 11.6.1995)
525. Hãy nhờ tràng hạt Mân Côi để thưa chuyện với Chúa Giêsu Thánh Thể, vì tràng hạt Mân Côi sẽ giữ ta ở lại với Chúa.
      (Ngày 12.2.1995)
526. Chúa Giêsu Thánh Thể là người Bạn quý nhất của chúng ta, ta đến với Ngài lúc nào cũng được, và nói gì Ngài cũng sẵn sàng nghe.   (Ngày 17.6.1995)
527. Nếu chúng ta tin Chúa Giêsu đang ngự thật trong Thánh Thể, đời ta sẽ rất hạnh phúc, và ta sẽ thích đến với Chúa.
     (Ngày 11.6.1995)
528. Mỗi khi đến với Chúa Giêsu Thánh Thể, chúng ta nhìn lên Chúa, cái nhìn đó quý lắm. (Ngày 11.5.1995)
529. Muốn tu cho đúng nghĩa, muốn nên thánh, ta hãy đến thưa với Chúa Giêsu Thánh Thể, Chúa sẽ làm  cho chúng ta.     
(Ngày 11.6.1995)
530. Hãy đến với Chúa Giêsu Thánh Thể, vì không ai yêu thương và làm cho chúng ta sung sướng bằng Chúa.  (Ngày 11.6.1995)
531. Vâng theo lời khuyên của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II : ta hãy đến trước Thánh Thể để yêu Chúa và để cho Chúa yêu.
   (Ngày 03.10.1996)
532. Nếu chúng ta tin thật Chúa Giêsu hiện diện trong Thánh Thể, ta sẽ không có thái độ khườn khĩnh, uể oải… khi ở trong nhà nguyện. (Ngày 2.6.1991)
533.  Ta là nữ tu dù làm gì, ở đâu, lẽ sống của ta luôn phải là Chúa Giêsu ngự trong Thánh Thể. (Ngày 14.4.1991)

IX. Đức yêu thương

1.  Sống yêu thương theo Lời Chúa

534. Là nữ tu, ta phải tích cực thực hành lời Chúa: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy là các con yêu thương nhau” (Ga 13, 34-35)(Ngày 25.5.1993)
535. Lời Chúa dạy: “Hãy yêu thương nhau như Thầy yêu các con” (Ga 15,12). Ta hãy chịu khó xét kỹ lưỡng điều này vì ta còn qúa nghĩ tới mình.   (Ngày 24.10.1993)
536. Chúa Giêsu đã quả quyết: “Điều gì các ngươi làm cho một người nhỏ nhất, là các ngươi đã làm cho chính Ta” (Mt 25,40). Các con phải coi lời này cũng có giá trị ngàn đời như lời Chúa phán: “Này là Mình Ta, này là Máu Ta”.  (Ngày 31.5.1990)
537. Các con hãy nhớ lời Chúa dạy: “Hãy cho, thì sẽ cho lại các ngươi” (Lc 6,38). Ta thương người khác, Chúa sẽ thương ta.
(Ngày 14.4.1993)
538. Chúa bảo: “Những gì các con làm cho một người rốt hèn là làm cho chính Ta” (Mt 25,40). Vì vậy  chúng ta đừng từ chối giúp đỡ ai khi có thể. (Ngày 14.7.1996)
539. Ngày nào chúng ta cũng được nghe Lời Chúa, nhưng Lời Chúa, nhất là về đức bác ái, sinh hoa kết quả rất ít trong ta, vì ta còn ích kỷ, chỉ nghĩ đến mình. (Ngày 14.7.1996)
540. Chúng ta tin Lời Chúa phán: “Này là Mình Ta, Này là Máu Ta...” thì cũng phải tin những lời Chúa phán về đức bác ái là quan trọng như vậy. (Ngày 29.3.1990)
541. Suy về dụ ngôn người Samaritanô, Chúng ta thực hành bác ái, không phải chỉ nghĩ đến yêu thương những người nằm ngoài đường phố, nhưng trước tiên, ta hãy nghĩ ngay đến những chị em sống gần ta. (Ngày 12.7.1992)
542. bất cứ ai, chỉ vì họ là người, phương chi họ lại là con cái Chúa, hơn nữa lại là một nữ tu. (Ngày 16.7.1989)
543. Các con hãy nhớ bài Phúc Âm về người phú hộ để tập cho biết tôn trọng mọi người, nhất là những người hèn kém.
(Ngày 14.3.1993)
544. Trong dự ngôn “Người cha nhân hậu”, người anh đã không nhìn nhận em mình: Trong đời sống chung, ta phải cố gắng để đừng đố kỵ với một chị em nào.   (Ngày 31.12.1989)
545. Đức bác ái cần kíp và rất quan trọng, có thể nói, nó là tất cả đời sống của ta, vì Chúa Giêsu bảo: “Mến Chúa, yêu người là gồm tóm mọi lề luật và các tiên tri” (Mt 22,39-40).   (Ngày 05.4.1995)
546. Đối với chị em, chúng ta  hãy thực hành lời thánh Phaolô: “Hãy có lòng nhân hậu, từ bi, ôn hòa, khiêm cung, nhẫn nại, chịu đựng lẫn nhau và hãy tha thứ cho nhau” (x. Cl 3, 12)    (Ngày 09.9.1996)
547. Thánh Phaolô nói : “Anh em đừng mắc nợ ai điều gì trừ đức bác ái”. Đức bác ái không bao giờ trả xong, vì ta phải thi hành cho đến chết và mỗi ngày phải tấn tới hơn. (Ngày 09.9.1996)
548. Cha rất bỡ ngỡ vì chúng ta được nghe Lời Chúa hằng ngày, nhắc đi nhắc lại về đức bác ái, nhưng một số người vẫn cứ gắt gỏng, nóng nảy, hung hăng. (Ngày 11.8.1991)
549. Chúa bảo: “Đừng xét đoán để khỏi bị xét đoán”. Nhiều khi các con xét đoán qúa tự nhiên. Chính những cái đó làm cho đời sống chung nên khó khăn.  (Ngày 05.6.1993)
550. Phải nhớ lời Chúa : “Giới răn thứ hai cũng giống như giới răn thứ nhất”(Mt 22,39). Ít người trong các con chịu để ý thực hành đức bác ái, nên đời sống chung trở thành nặng nề, khó khăn.(Ngày 28.10.1990)
551. Đừng ai muốn đặt mình là Thiên Chúa tự do xét đoán chị em, hãy nhớ Lời  Chúa : Chúa không thương xót kẻ không biết thương xót.  (Ngày 09.11.1991)
552. Chúa bảo: “Các ngươi đong đấu nào, người ta sẽ đong cho các ngươi bằng đấu ấy” (Mt 7,2). Ta xét đoán ai, họ sẽ xét đoán ta như vậy. (Ngày 09.11.1991)
553. Chúa đã bảo : “Đừng xét đoán”. Ta đừng muốn coi mình như bà trời con, tự do kết án, tự do đoán xét người khác, ai mà chịu ta được? (Ngày 29.3.1990)

2. Giữ giới răn riêng:  Yêu thương nhau

554. Muốn nên thánh, nên giống Chúa Giêsu, ta cần phải giữ lệnh truyền của Chúa: “Hãy yêu thương nhau”. (Ngày 31.12.1988)
555. Các con phải để ý sống đức bác ái, vì đó là dấu hiệu riêng của Dòng ta, dấu hiệu riêng của môn đệ Chúa Giêsu.        
(Ngày 07.3.1991)
556. Muốn biết chị nào có đạo đức, có thánh hay không, đừng nhìn những cái bên ngoài, nhưng xem chị ấy có sống đức bác ái không ? (Ngày 05.4.1995)
557. Hãy xin Chúa cho ta có tinh thần bác ái, có điều đó ta chắc chắn được vào Thiên Đàng. (Ngày 21.11.1993)
558. Chị em trong một Dòng mà không yêu nhau thì còn ai thực hành đức bác ái được?  (Ngày 03.11.1991)
559. Chúng ta không hòa thuận với chị em mà ta cứ cầu cho thế giới hòa bình, Chúa ban sao được ? (Ngày 03.11.1991)
560. Chúa dạy yêu thương mọi người. Chúa không bảo ta chỉ yêu những người trong cùng một nước, một dòng thôi, nhưng là yêu hết mọi người.    (Ngày 28.10.1990)
561. Nếu chúng ta yêu chị em bằng mình thì khi thấy chị em được cái gì hơn ta, ta cũng sung sướng . (Ngày 24.10.1993)
562. Thấy chị em có khuyết điểm, hãy chữa lỗi cho họ như ta làm cho chính mình.   (Ngày 24.10.1993)
563. Chúa muốn Hội Dòng giữ lại nếp sống của những giáo hữu tiên khởi: để mọi sự làm của chung, yêu thương bù đắp cho nhau. (Ngày 24.10.1993)
564. Nếu ta hết lòng với người khác, Chúa sẽ cho lại ta gấp trăm. (Ngày 24.10.1993)
565. Bất cứ người nào, dù hằn thù, oán ghét, tìm cách làm hại chúng ta thế nào, chúng ta cố tìm cách giúp đỡ họ bằng mọi cách khi có thể.       (Ngày 14.7.1996)
566. Nếu muốn yêu anh em như Chúa đã yêu, chúng ta phải yêu Chúa hết lòng, hết sức, trên hết mọi sự. (Ngày 23.6.1996)
567. “Dấu hiệu riêng của Dòng là đức thương yêu” (HC 22). Nếu  ta không có dấu hiệu đó thì không xứng đáng là Nữ tu Trinh Vương đâu. (Ngày 10.3.1991)

3. Thi hành bác ái theo tinh thần đức tin

568. Muốn cho Dòng được vững vàng, chị em phải sống yên hàn với nhau,  phải thực hành bác ái. (Ngày 30.4.1989)
569. Nếu chúng ta yêu nhau thì Chúa sẽ ở với ta, mà có Chúa ở với thì chúng ta không còn sợ gì nữa. (Ngày 30.4.1989)
570. Nếu ta nói yêu Chúa mà không thi hành Ý Chúa: “yêu mọi người như Chúa yêu” là ta nói dối.  (Ngày 10.3.1991)
571. Các con cố yêu thương nhau, để biến Nhà Dòng thành Thiên Đàng dưới đất.  (Ngày 31.5.1990)
572. Tình yêu đích thực ta dành cho Chúa Giêsu cũng phải tràn sang tha nhân nữa. (Ngày 31.5.1990)
573. Hãy tin có Chúa ngự trong tâm hồn ta và trong người khác, để chúng ta thương yêu mọi người, bất kể họ có đạo hay không.
(Ngày 24.11.1996)
574. Nếu ta không có tinh thần đức tin thì không thể yêu thương nhau thật sự được.(Ngày 24.11.1992)
575. Chúng ta sống với nhau, thế nào cũng có những va chạm, xích mích, ta hãy yêu thương tha thứ cho nhau, đừng khinh thường một ai(Ngày 14.03.1993)
576. Khi làm việc với nhau sẽ gặp nhiều khó khăn; đừng bỡ ngỡ, cần một điều là chúng ta có tinh thần đức tin, nhịn nhục, tha thứ, thông cảm cho nhau. (Ngày 24.11.1992)
577. Tính ích kỷ làm hại cho đức bác ái không sao kể hết được.  (Ngày 24.11.1992)
578. Mỗi dịp hồi tâm ta để ý kiểm điểm đặc biệt về đức bác ái. (Ngày 03.11.1991)
579. Ta yêu thương nhau không phải bằng cảm tình, nhưng bằng đức ái siêu nhiên. (Ngày 16.8.1992)

4. Hát và sống bài ca đức ái

580. Mỗi lần hát ca đức ái, hãy xét xem ta có yêu thương chị em thật không.   (Ngày 03.11.1991)
581.  Mỗi khi hát đức ái, học hỏi về bác ái, nghe Lời Chúa về bác ái, các con cố để ý suy nghĩ một tí, đừng nghe suông cho qua đi. (Ngày 31.12.1988)
582. Đừng lo làm việc này việc khác không cần mà bỏ hát ca đức ái.  (Ngày 16.7.1989)
583. Khi hát ca đức ái, chúng ta hãy thực hành  ít là ở điểm “làm hòa với chị em sau khi sai lỗi”. (Ngày 03.11.1991)
584. Hằng ngày hát ca đức ái, chúng ta có cơ hội kiểm điểm việc thực hành bác ái, để quyết tâm yêu chị em hơn, nhất là yêu người nào ta có ác cảm.     
      
     
5. Nhìn Chúa trong mọi người

585. Các con phải hết sức tận tình giúp đỡ chị em. Phải vượt mọi ranh giới để nhìn Chúa trong mọi người.  (Ngày 16.7.1989)
586. Muốn trở nên đèn sáng, ta phải yêu thương nhau, phải nhìn Chúa Giêsu trong chị em để sẵn sàng giúp đỡ. (Ngày 04.02.1990)
587. Tập nhìn Chúa trong mọi người để không bỏ mất một việc bác ái nào.  (Ngày 02.3.1991)
588. Nếu chưa tha thiết với Chúa Giêsu thì làm sao chúng ta có thể nhận ra Chúa trong chị em được.  (Ngày 02.3.1991)
589. Chúng ta phải yêu tha nhân vì họ là hình ảnh của Thiên Chúa, dù họ xấu xí, tự nhiên ta ác cảm.  (Ngày 12.11.1995)
590. Chúng ta hãy năng cầu  xin Chúa ban thêm đức tin, để nhìn ra Chúa và yêu Chúa trong mọi người. (Ngày 17.11.1992)
591. Chúng ta hãy đặt mình vào địa vị người khác, để đối xử xứng đáng, chớ coi thường ai.   (Ngày 21.11.1993)

6. Sống bác ái để truyền giáo

592. Chúng ta đi truyền giáo, thì điều cần là tận đáy lòng ta phải yêu mọi người thực sự như Chúa đã yêu họ.  (Ngày 07.3.1991)
593. Chúng ta bắt chước Mẹ Maria, tập sống bé nhỏ, thương người để đem Chúa Giêsu đến cho mọi người.                            (Ngày 18.12.1988)
594. Chị em trong cùng một lớp mà không sống thành thực được với nhau, thì các con còn mong đi giảng đạo cho ai ? 
(Ngày 31.12.1988)
595. Các con không nói được với nhau một lời thành thực, làm sao giúp người khác sống hòa thuận được? (Ngày 31.12.1988)
596. Đối với người nghèo, người làm công cho chúng ta, hãy nhìn Chúa Giêsu trong họ, thương họ thật tình, đừng tính toán qúa. (Ngày 03.10.1996)
597. Chúng ta phải hết sức kính trọng những người nghèo, cố gắng nâng đỡ họ được bằng nào hay bằng ấy.  (Ngày 21.11.1993)
598. Các con phải tập yêu người nghèo, vì Chúa đứng về phe của họ. (Ngày 20.11.1992)
599.  Phải sống khiêm tốn, nhịn nhục nhau, yêu thương nâng đỡ nhau thì chúng ta mới hy vọng truyền giáo cho người khác được.  (Ngày 29.3.1990)
600. Ai cũng hãy cố gắng đặt mình vào địa vị của người khác để sống hiệp nhất với nhau. (Ngày 29.3.1990)
601. Nếu sống với nhau mà không có sự hợp nhất thì chúng ta không thể mở mang Nước Chúa được.  (Ngày 04.5.1991)
602. Xin Chúa mở rộng trái tim ta để ôm ấp, yêu thương, thông cảm với những người sống bên ta, và với cả thế giới.                 
(Ngày 04.5.1991)
603. Là Nữ tu thừa Sai, ta có thể được sai đi bất cứ nơi nào. Chị em hãy gắng hoà thuận yêu thương nhau mới trông làm được gì cho Chúa. (Ngày 04.5.1991)

7. Bác ái cần thiết cho đời sống chung

604. Đời sống chung khó thật, nhưng chúng ta phải cố gắng, vì chúng ta còn sống chung với nhau mãi. (Ngày 03.6.1991)
605. Chị em cố gắng sống hòa thuận yêu thương nhau và biết nghĩ đến nhà Dòng. (Ngày 03.6.1991)
606. Đừng ai bảo : “Chị ấy khó, nhà này khó !” nhưng phải tự hỏi : tôi khó hay dễ ? Khó hay dễ là ở mình. (Ngày 20.11.1992)
607. Chúng ta hãy cố quên mình để nghĩ đến người khác, làm cho họ được sung sướng, được yên ủi, vui cười.   (Ngày 20.11.1992)
608. Các con phải nhất định cương quyết sửa mình và sống thành thực với nhau.  (Ngày 31.12.1988)
609. Không có gì làm đổ vỡ đời sống hiệp nhất bằng ý riêng. (Ngày 29.3.1990)
610. Chỉ có tình yêu Chúa mới giúp chúng ta nhịn nhục yêu thương nhau được thôi.  (Ngày 29.3.1990)
611. Nếu chị em khó, ta cứ dễ đi, rồi họ sẽ dễ ra.   (Ngày 27.11.1988)
612. Càng những người ác cảm, khó thương, chúng ta càng gần gũi, vui vẻ với họ hơn. (Ngày 12.11.1995)
613. Chúng ta đi tu mà còn  giữ ác cảm với chị này chị kia, không muốn đến gần..., như thế làm sao xứng đáng là chị Dòng ?
(Ngày 12.11.1995)
614. Ai cũng hãy để ý xét lại lời nói của mình, kẻo nó gây ra nhiều thứ rầy rà trong đời sống chung. (Ngày 23.11.1991)
615. Đời sống chung tốt đẹp ở chỗ chị em yêu thương nhau, vui vẻ, vâng giữ kỷ luật. (Ngày 11.12.1988)
616. Chúng ta là chi thể của nhau, phải thương nhau, đừng khinh thường ai.      (Ngày 08.01.1990)
617. Bề trên và bề dưới hãy nâng đỡ nhau, đừng chỉ biết nghĩ đến mình. (Ngày 08.01.1990)
618. Chúng ta là con cùng một Mẹ, cùng chung một sự sống, cùng một giòng máu thiêng liêng, ta phải yêu thương nhau.
(Ngày 23.3.1990)
619. Các con cố gắng sống hòa thuận với nhau, đó là điều rất cần trong các Dòng nữ.  (Ngày 23.3.1990)
620. Các con hãy tập sống vì Chúa Giêsu, vì Hội Dòng, để yêu thương nhịn nhục nhau.  (Ngày 12.6.1990)
621. Ở đâu, làm gì cũng có những khó khăn, chúng ta cố gắng chịu đựng lẫn nhau. (Ngày 12.6.1990)
622. Các con để ý thực hành lời kinh đọc hằng ngày: “nhường phần hơn, nhịn nết xấu, đoán ý lành cho nhau”. (Ngày 07.3.1991)
623. Nếu các chị phụ trách năng nói với chị em về đức bác ái, thì chị em cũng sẽ cố gắng thi hành.  (Ngày 21.11.1993)
624. Chúng ta phải đối xử với nhau hơn cả chị em ruột thịt, vì mọi người là chi thể của Chúa Kitô. (Ngày 03.10.1996)
625. Chúng ta không thể giúp đỡ hết mọi người được, thì ít là những người gần gũi ta, hãy làm cho họ được sung sướng.
(Ngày 03.11.1996)
626. Chị em chúng ta có người khó thương vì tính tình, vì dung nhan, ta đừng nhìn vào cái xấu đó, nhưng nhìn vào cái tốt của họ. (Ngày 10.3.1991)
627. Chúng ta đừng muốn người khác cũng phải giống hệt như mình, kẻo ta làm cho đời sống chung thành nặng nề. (Ngày 07.5.1991)
628. Phải cố gắng cầu nguyện, làm gương sáng, hy sinh, tập luyện lâu năm mới có đức bác ái thực sự.  (Ngày 10.3.1991)
629. Trong khi làm việc, có gì sai sót, chúng ta bình tĩnh dàn xếp, đừng “choảng” nhau. (Ngày 15.8.1988)
630. Ta phải biết đặt mình vào địa vị của chị em; có chuyện gì cứ vui vẻ rồi bình tĩnh giải quyết. (Ngày 15.8.1988)
631. Mỗi người hãy cố gắng nhường đi một chút, đừng để chị em phải nhịn ta nhiều qúa. (Ngày 03.10.1996]
632. Sống chung với nhau,  nếu không có đối thoại, thì dễ đi đến chỗ nghi kỵ ngờ vực lẫn nhau.  (Ngày 07.5.1991)
633. Đời sống chung rất tế nhị, hãy tập biết khéo léo nhìn đến người khác một chút.  (Ngày 07.5.1991)
634. Để làm hòa với chị em, ta phải cố gắng lắm, nhưng nó sẽ đưa chúng ta tiến mau trên đường thánh thiện.  (Ngày 21.11.1993)
635. Chúng ta cố gắng hợp nhất với nhau,  công việc sẽ rất thành công.  (Ngày 19.5.1996)
636. Đức bác ái phải hiền từ, nhịn nhục, tôn trọng. Mà đã tôn trọng thì đừng có quát lác, la rầy. (Ngày 14.3.1988)
637. Yêu nhau thật là cắt nghĩa tốt cho nhau. Yêu nhau là gắn bó sống chết với nhau. (Ngày 03.11.1991)
638. Yêu nhau thật không phải là cứ khen nhau, hay cho nhau kẹo bánh, nhưng là hiệp nhất với nhau, sẵn sàng giúp đỡ nhau khi có thể.  (Ngày 03.11.1991)

8. Dấu hiệu riêng của Dòng

639. Chúng ta hãy thực hành hoàn hảo tình yêu huynh đệ với nhau, với tha nhân. Đấy là dấu hiệu riêng của Phúc Âm, của Hội Dòng.  (Ngày 01.5.1996)
640. Càng yêu thương, càng đoàn kết với nhau, công việc càng có kết qủa. (Ngày 01.5.1996)
641. Là chị em trong cùng Hội Dòng, chúng ta yêu thương nhau cách đặc biệt.  (Ngày 01.5.1996)
642. Ta hãy sẵn sàng yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, đừng ai sống như một hòn đảo. (Ngày 01.5.1996)
643. Các con phải tập trở nên dễ thương ở tính tình của mình.   (Ngày 27.11.1988)

9. Gương sáng

644. Gương sáng rất cần để giúp nhau nên thánh.  (Ngày 04.02.1990)
645. Chúng ta cần sống niềm nở, vui vẻ, nhưng cũng rất kỷ luật. (Ngày 21.11.1992)
646. Chớ gì mỗi nữ tu nói được : “Tôi sẽ tôn trọng ơn gọi của tôi bằng đời sống gương sáng”. (Ngày 06.07.1992)
647. Các con phải tập luyện để mình có giá trị, có tư cách ở chỗ biết hãm lại những cơn bực tức. (Ngày 25.6.1989)
648. Các con phải cố gắng nhịn nhục chị em, để làm gương sáng cho nhau. (Ngày 08.01.1989)
649. Các con đừng để ai phải nói : các chị càng lớn tuổi càng khó tính. (Ngày 08.01.1989)
650. Chúng ta phải sống thế nào để ở bên ta, chị em không phải sợ. (Ngày 21.11.1992)
651. Chúng ta cố gắng thánh hóa chị em cùng làm việc với mình bằng gương sáng trong lời nói, việc làm, bằng việc giữ kỷ luật, giữ lời khấn.   (Ngày 27.11.1988)
652. Khi làm việc chung với nhau, các con đừng làm gương xấu cho nhau, đừng nói những chuyện thiếu xây dựng, không hợp với bậc tu trì. (Ngày 04.02.1990)
653. Nếu các con không cố giữ lấy những thói quen tốt lành: “làm gương sáng cho nhau”, thì càng sống lâu, sống đông càng có nhiều thứ rắc rối.  (Ngày 26.02.1990)
654. Các con hãy giữ lấy nhau, nêu gương sáng cho nhau. (Ngày 26.02.1990)
655. Ta làm gương tốt rồi khuyên người khác thì có hiệu quả lắm. (Ngày 21.11.1992)
656. Gương tốt đối với một nữ tu là một bổn phận gắt gao hơn là đối với một tín hữu.  (Ngày 21.11.1992)
657. Đi đâu cũng phải làm cho người đời thấy : Lời ăn tiếng nói của chúng ta chiếu giãi ánh sáng của Chúa.
(Ngày 21.11.1992)
658. Nếu ta khao khát nên thánh, thì ta phải sống thế nào để lời nói, việc làm và cả cuộc sống của ta là một gương sáng cho chị em.  (Ngày 06.07.1992)
659. Chúng ta cố gắng làm gương sáng cho nhau, để ai đến ở với ta sẽ cảm thấy đời tu là đáng qúy.  (Ngày 27.8.1989)
660. Chúng ta giúp nhau nên thánh bằng lời cầu nguyện, bằng gương sáng, bằng đời sống thánh thiện, khiêm tốn, bé nhỏ, vâng lời. (Ngày 01.7.1991)
661. Trong nhà Dòng, chúng ta phải là hiện thân của Chúa Giêsu giữa chị em.  (Ngày 06.7.1992)
662. Gương sáng là một bài giảng liên tục, nó nói nhiều hơn cả những bài giảng hùng hồn.  (Ngày 06.7.1992)    
663. Người đã sống lâu hơn trong nhà Dòng phải xây dựng Dòng bằng gương sáng.  (Ngày 06.7.1992)
664. Ta phải làm gương sáng cho chị em về lòng đạo đức trong nhà nguyện, ở lối đi, dịu dàng trong lời nói, tận tuỵ trong việc bổn phận.  (Ngày 21.11.1992)

10. Tránh gương xấu

665. Chúa nói : “Khốn cho kẻ gây ra gương xấu, thà cột cối đá mà xô nó xuống biển còn hơn” (x.Mt 18,6). Như vậy gương xấu rất nặng . (Ngày 01.7.1991)
666. Cố gắng sống cho Chúa, để biết cầm hãm tính riêng, đừng gây gương mù hoặc nên cớ vấp phạm cho nhiều người.    
(Ngày 27.8.1989)
667. Khi bực tức, các con gắng hãm lại, nếu thả cơn giận theo tự nhiên, các con sẽ gây gương mù cho chị em.  (Ngày 08.01.1989)
668. Chị em thương nhau, phải biết cầm hãm tính nóng nảy của mình để khỏi gây gương xấu cho nhau. (Ngày 01.7.1991)
669. Các con thận trọng, đừng làm gương mù gương xấu cho những kẻ bé mọn, cụ thể là cho các em đệ tử.   (Ngày 16.8.1992)
670. Dựa theo Lời Chúa, ta cũng có thể nói : “Khốn cho Chị Dòng nào gây ra gương xấu”(Mt 18,6). (Ngày 01.07.1991)
671. Chúng ta phải làm sao để đời sống tỏa hương thơm nhân đức, chứ đừng tỏa những thứ hôi hám. (Ngày 16.8.1992)
671. Sống trong Dòng, nếu thấy chị em làm gương mù gương xấu, chúng ta hãy nhất quyết ở lại để cứu Hội Dòng bằng sống hiền lành khiêm nhường, cố gắng nên thánh. (Ngày 16.8.1992)
673. Các con hãy cầu nguyện cho nhau sống tốt hơn, đừng ai làm gương mù cho người khác. (Ngày 01.01.1993)

11. Yêu nhau thật sự

674. Các con cố gắng sống đời tận hiến đúng nghĩa, yêu thương nhau thật sự, để đáp lại tình yêu Chúa. (Ngày 18.12.1988)
675. Sự chia rẽ là dấu hiệu sụp đổ của cộng đoàn và Hội Dòng. (Ngày 02.09.2000)
676. Yêu nhau thật là giúp nhau sửa lại những khuyết điểm để sống tốt hơn.  (Ngày 09.12.1989)
677. Ai có đức tin sẽ không phàn nàn khi được chị em nhắc bảo.  (Ngày 09.12.1989)
678. Yêu nhau tận đáy lòng thì đừng nói xâu người thứ ba, gặp đau khổ trái ý thì đừng phàn nàn.  (Ngày 07.3.1991)
679. Hãy tỏ lòng biết ơn và chúc lành cho những người chúng ta không ưa, nhất là cho những người nói xấu ta. (Ngày 25.7.1993)
680. Không gì làm cho chị em sung sướng bằng: thấy ta thương họ thật tình.    (Ngày 15.8.1988)
681. Yêu thương nhau vì Chúa, yêu bằng ý chí và đức tin chứ đừng vì cảm tình.     (Ngày 15.8.1988)
682. Các con chịu khó tập khiêm nhường, đơn sơ, vui vẻ để chị em dễ sống với ta.    (Ngày 27.11.1988)
683. Chúng ta phải sống thế nào, để chị em càng sống bên cạnh ta, họ càng thích, càng thấy ta tốt lành và họ được biến đổi.
(Ngày 27.11.1988)
684. Nếu chúng ta cứ muốn hơn người, cái gì của ta cũng phải hơn người khác, họ sẽ chán ta ngay. (Ngày 27.11.1988)
685. Nếu không làm cho chị em sung sướng, thì ít là các con đừng làm khổ nhau.   (Ngày 27.11.1988)
686. Các con cố gắng đừng để mình là người khó nết, người gây chia rẽ.   (Ngày 27.11.1988)
687. Để ý thực hành lời kinh Dâng Dòng: “Xin Mẹ làm cho chúng con biết tha thiết sống quên mình..., nhường phần hơn, nhịn nết xấu, đoán ý lành cho nhau”, chúng ta sẽ đỡ lỗi đức bái ái với nhau.  (Ngày 08.9.1991)
688. Muốn hợp nhất với nhau, phải biết nhường phần hơn, nhịn nết xấu, đoán ý lành cho nhau. (Ngày 02.09.2000)
689. Hãy đưa những lời kinh chúng ta đọc ban sáng ra thực hành: “Yêu nhau tận tình trong ý tưởng, lời nói, việc làm...”
(Ngày 23.11.1991)

12. Yêu thương chan hoà niềm vui

690. Muốn sống vui vẻ, hiền hòa, các con phải biết quên mình đi để nghĩ đến chị em.  (Ngày 11.12.1988)
691. Nếu các con chỉ nghĩ đến mình, chỉ sống ích kỷ, sẽ không làm cho chị em vui được. (Ngày 11.12.1988)
692. Đi đâu, sống với ai, làm việc gì, các con cũng cố tập làm tôi Chúa trong sự vui vẻ. (Ngày 11.12.1988)
693. Vui vẻ không phải là “dức lác” bên ngoài, mà là làm sao để tâm hồn chúng ta luôn được giao hòa với Chúa, với chính mình và với mọi người. (Ngày 17.12.1989)
694. Làm con Chúa, làm tôi Chúa, chúng ta phải luôn luôn tươi vui vì biết rằng Chúa yêu thương ta. (Ngày 04.02.1996)
695. Các con cố gắng sống vui vẻ. Vì có Chúa ở với ta, không có cái gì đáng buồn nữa.  (Ngày 26.01.1992)
696. Người lúc nào cũng nhăn nhó, cau có, vừa làm khổ mình, vừa làm khổ chị em. (Ngày 11.12.1998)
697. Khi gặp đau khổ, chúng ta hãy nghĩ đến sự quan phòng của Chúa và Mẹ, có buồn một tí rồi lại vui lên. (Ngày 09.02.1992)
698. Cuộc đời vắn vỏi lắm, nên chúng ta tập sống vui vẻ, đừng nhăn nhó, đã có Chúa lo mọi sự cho ta. (Ngày 16.6.1995)
699. Một con tim càng thẩm thấu vào Trái Tim Chúa Giêsu bao nhiêu, thì càng học biết bí thuật sống hạnh phúc và chiếu tỏa niềm vui ra chung quanh bấy nhiêu. (Ngày 01.6.1990)
700. Làm việc bác ái thôi chưa đủ, cần chúng ta phải làm trong sự vui vẻ nữa. (Ngày 10.3.1991)
701. Khi ta mỉm cười là Chúa Giêsu cười qua chúng ta, hãy cho Chúa Giêsu mượn môi miệng ta để mỉm cười với chị em.    
 (Ngày 10.3.1991)
702. Ai cũng qúy những người lúc nào cũng tươi tắn. Là chiêu đãi viên của Chúa Giêsu, chúng ta phải luôn luôn vui vẻ.    
 (Ngày 10.3.1991)
703. Không có gì đáng làm cho chúng ta buồn. Nếu ta làm việc hết sức rồi, mà chị em cứ kêu trách, hãy cứ vui, vì đó là dịp cho ta tập khiêm nhường.  (Ngày 15.12.1991)
704. Chúa muốn ta phụng sự Chúa với niềm vui vẻ, vì Chúa là nguồn vui, là hạnh phúc. (Ngày 13.7.1991)
705. Các con cố tập để vui vẻ luôn luôn, muốn được như vậy thì phải hết lòng yêu mến Chúa. Khi yêu, ta sẽ cảm thấy rất vui.
(Ngày 10.01.1993)
706. Một linh hồn càng thánh họ càng vui, vì được gần nguồn hạnh phúc là chính Thiên Chúa.  (Ngày 01.6.1990)
707. Cho ai, tặng ai, giúp ai... ta hãy làm với sự vui vẻ nhã nhặn để người ta đừng thấy ta miễn cưỡng. (Ngày 02.3.1991)
708. Các chị làm nhà bếp, coi nhà kho, phòng tiếp liệu... có ai xin gì mà không thể cho được, thì ta nói cách khéo léo, tươi cười. Người như vậy ai mà không qúy. (Ngày 02.3.1991)
709. Chị em tập sống vui vẻ, nhưng đừng hạ người khác xuống.  (Ngày 02.3.1991)
710. Chúa muốn ta thực hành đức bác ái bằng một hành động cụ thể:  nhã nhặn, vui vẻ khi có ai cậy nhờ. (Ngày 02.3.1991)
711. Chúng ta cứ vui vẻ cho đi thì sẽ được Chúa ban cho cái khác. (Ngày 15.12.1991)
712. Mỉm cười trở thành việc nhân đức, khi ta giữ lại âu lo, đau khổ cho chính mình, còn sự tươi cười và an ủi dành cho tha nhân.  (Ngày 10.3.1991)
713. Mỉm cười với ai là như ta đang nói với họ : “Tôi rất qúy mến bạn. Gặp được bạn, tôi hoan hỉ lắm !”(Ngày 20.10.1991)
714. Các con phải tập cười. Có nhiều người  lúc nào cũng nghiêm nghị, ngậm chặt hai môi lại. Người như vậy ai mà dám đến gần? (Ngày 20.10.1991)
715. Nếu chúng ta biết vui vẻ, làm cho người khác được vui thì sẽ được mọi người thương mến. (Ngày 15.12.1991)
716. Sống vui, làm việc cho Hội Dòng thì không có cớ gì để buồn. Thật sự không ai đáng vui bằng ta sống trong Dòng.         (Ngày 15.12.1991)
717. Các con khấn trọn, dù đã lớn tuổi rồi chúng ta cũng cứ tập vui vẻ, trẻ trung, luôn tươi cười.  (Ngày 25.3.1993)
718. Càng già, các con càng tiến vào xuân vĩnh cửu, nghĩa là càng gần Chúa, mà Chúa là Đấng luôn luôn tươi trẻ. Vậy chúng ta cố tập mỗi ngày tươi trẻ lại.    (Ngày 04.02.1996)
719. Phải vui luôn, dù khi đã già, da có nhăn nheo, ta cũng cứ nở nụ cười tươi. (Ngày 01.6.1990).
720. Càng lớn, càng già càng phải cố gắng vui luôn. Nếu không vui vẻ sẽ sinh ra nhiều bệnh, từ đó chúng ta sẽ trở nên khó nết.
(Ngày 16.6.1995)
721. Ai cũng hãy cố gắng tập cười với chị em cả những lúc không muốn cười. (Ngày 12.5.1996)
722. Các chị ở với Cha bằng ấy năm (40 năm), ít là bắt chước Cha để cười với nhau một tí. (Ngày 31.5.1996)
723. Dòng chúng ta là Dòng mỉm cười, vui tươi. Hãy cố gắng vui vẻ sẽ khỏe mạnh. (Ngày 26.3.1995)
724. Ai không biết cười, gắng tập, kẻo chúng ta đi tu bỏ mình vất vả mà không vui vẻ, thật tội nghiệp !(Ngày 31.5.1995)
725. Cười làm cho chúng ta khỏe đã vậy, còn làm cho mọi người cùng vui. Người nghiêm nghị làm cho ai cũng sợ.             
 (Ngày 31.5.1995)
726. Chúng ta hãy ăn chay bằng cách: hy sinh tươi cười với chị em. (Ngày 25.02.1995)
727. Sống vui vẻ đôi lúc cũng khó lắm, nhưng đó là hy sinh Chúa đòi ở ta. (Ngày 25.02.1995)

X. Đời tông đồ

1. Sứ mệnh Thừa Sai

728. Đi đâu chúng ta cũng phải để ý đến sứ mệnh sứ mệnh đưa người ta về vớiChúa. (Ngày 25.2.1996)
729. Chúng ta phải hăng say làm tông đồ, đưa người ta về làm con Chúa, hưởng hạnh phúc muôn đời. (Ngày 25.02.1996)
730. Chúng ta phải trở nên một cộng đoàn truyền giảng Tin Mừng, vì ta không thể vào Thiên Đàng một mình.  (Ngày 24.03.1996)
731.  Ta phải luôn dùng đời sống và gương sáng mà rao giảng về Chúa Giêsu.      (Ngày 3.3.1996)
732. Đức tin là kho tàng quý báu Chúa ban nhưng không cho chúng ta, chúng ta cũng phải biết chia sẻ cho người khác.        (Ngày 24.3.1996)
733. “Hội Dòng chúng ta hiện hữu là để loan báo Tin Mừng”, nhất là bằng đời sống tốt lành và lời cầu nguyện của chúng ta.
 (Ngày 24.3.1996)
734.  Không sự tốt lành nào bằng làm cho Dân Tộc chúng ta biết Chúa, để được hạnh phúc đời đời (Ngày 7.5.1995)
735. Các con hãy xin ơn say sưa với việc cứu các linh hồn. Chúng ta cố gắng tìm mọi cách đưa người ta đến với Chúa dù phải tốn phí tiền của.   (Ngày 14.01.1996)
736. Là Nữ Tu Thừa Sai, ai cũng phải yêu thích việc truyền giáo.    (Ngày 21.01.1996)
737. Nếu không trực tiếp làm việc truyền giáo, thì chúng ta hãy truyền giáo bằng cách cố gắng chết đi cho con người phàm tục, cho những tính xấu.    (Ngày 5.3.1995)
738. Khi  đã tha thiết cầu nguyện cho các tội nhân, chúng ta cũng sẽ tìm mọi cách đưa họ về với Chúa.  (Ngày 21.10.1990)
739. Chúa cho chúng ta có nhà cửa, có của ăn. Nếu ai chỉ ăn mà không lo nên thánh và cứu các linh hồn, thật vô ích!
 (Ngày 14.01.1996)
740. Nếu chúng ta yêu Chúa thật thì dù có phải nhảy qua lửa để đến giúp một người tội lỗi trở lại, ta cũng nhảy; hoặc phải mất giờ, phải hy sinh cho họ, ta cũng sẵn sàng.   (Ngày 21.10.1990)
741. Chúng ta muốn cứu các linh hồn mà không muốn đổ máu, không chịu đau khổ, không nhịn nhục yêu thương, thì cứu sao được.     (Ngày 10.3.1991)
742. Chúng ta phải có trách nhiệm về hạnh phúc đời đời của ta và đồng loại.   Ngày 17.3.1991)
743. Truyền giáo là một vấn đề khó khăn, nhưng chúng ta trông cậy vào ơn Chúa giúp. Chúa đã sai ai đi thì Chúa luôn ở với họ.
  (Ngày 7.7.1991)
744. Hãy nhớ : các tông đồ làm việc, nhưng Chúa mới là người cho mọc lên, cho sinh hoa kết quả.  (Ngày 7.7.1991)
745. Việc tông đồ là công việc siêu nhiêu, nên rất cần lời cầu nguyện.   (Ngày 7.7.1991)
746. Làm bất cứ việc gì, chúng ta hãy làm vì vinh danh Chúa, giúp ích cho các linh hồn.  (Ngày 14.6.1992)
747. Có yêu các linh hồn chúng ta mới khát mong làm việc truyền giáo.  (Ngày13.9.1992)
748. Tha thiết với các linh hồn là ta tha thiết với Chúa, vì Chúa không muốn một ai phải hư đi. (Ngày 13.9.1992)
749. Ai cũng phải lợi dụng thời gian, đừng để ngày nào qua đi mà không yêu mến Chúa và yêu các linh hồn.            (Ngày 8.11.1992)
750. Mang danh hiệu Nữ Tu Thừa Sai Trinh Vương, ta có nhiệm vụ cứu các linh hồn bằng đời sống tu Dòng của ta.        
 (Ngày 30.5.1993)
751. Là Chị “Nữ Tu Thừa Sai”, khi được lệnh đến đâu, ta sung sướng nghĩ ngay rằng: tôi đến đó rao giảng Tin Mừng cho người ta.  (Ngày 14.5.1995)
752. Muốn rao giảng Chúa Giêsu, cần phải có Chúa trong mình, nên chúng ta gắng học về Chúa, nghe Lời Chúa, sống Lời Chúa. (Ngày 14.5.1995)
753. Dòng chúng ta là Dòng Thừa Sai. Vậy ai làm việc gì và ở đâu cũng phải có ý truyền giáo. (Ngày 14.01.1990)
754. Là Nữ tu Thừa Sai, chúng ta phải luôn ôm ấp việc truyền giáo trong tim óc chúng ta.   (Ngày 7.4.1996)
755. Là Dòng Thừa Sai, nên ai cũng phải chuẩn bị để được sai đi bất cứ nơi nào; nếu ai cảm thấy không chịu được, thì không thể tu Dòng Trinh Vương  (Ngày 7.4.1996)
756. Ai cũng hãy chuẩn bị sẵn sàng, trau dồi khả năng, khi có lệnh là ta ra đi ngay, đó mới là tâm hồn tông đồ.
    (Ngày 7.02.1993)
757. Chúng ta phải hy sinh và cầu nguyện nhiều hơn cho công việc truyền giáo.  (Ngày 30.4.1989)
758. Các con hãy tha thiết với sứ mệnh truyền giáo bằng cải thiện chính bản thân các con. (Ngày 2.1.1990)
759. Mỗi người tự chuẩn bị cho mình để nếu được bình an, chúng ta đi rao giảng về Chúa cho các linh hồn. (Ngày 25.4.1990)
760. Có yêu Chúa Giêsu, chúng ta mới tha thiết với các linh hồn.   (Ngày 23.7.1995)
7610. Khi chúng ta đã muốn giúp ích cho các linh hồn, ta sẽ để ý tìm tòi, học hỏi thu góp tài liệu, để khi đến việc, ta sử dụng được ngay. (Ngày 24.2.1991)
762. Chúng ta được tham dự vào công việc truyền giáo, phải coi đó là một niềm vui và là một vinh dự. (Ngày 21.01.1996)
763. Dù  phải tốn phí thời giờ, của cải mà chỉ rửa tội cho một em bé trước khi chết, cũng quý báu và bù lại quá đủ cho những tốn phí chúng ta phải chịu.  (Ngày 21.01.1996)
764. Là mẹ các linh hồn, chúng ta phải tha thiết với phần rỗi con cái của chúng ta.  (Ngày 27.8.1996)
765. Còn sống ngày nào, ta cứ phó mình cho Mẹ, để Mẹ biến ta nên dụng cụ cứu các linh hồn. (Ngày 25.4.1990)
766. Luôn phó thác trọn vẹn cho Mẹ, để Mẹ sử dụng ta theo ý Mẹ, đó là việc tông đồ rất có giá trị.  (Ngày 4.3.1995)
767. Chúng ta có nhiệm vụ phải truyền giáo; nếu  ta sống việc tận hiến cho Mẹ, Mẹ sẽ làm cho việc truyền giáo của chúng ta có kết quả. (Ngày 22.11.1995)
768. Theo gương Chúa Giêsu hạ mình vâng lời cho đến chết, ta hãy đóng góp vào việc truyền giáo bằng đời sống  khiêm tốn tự hạ của ta. (Ngày 24.03.1991)
769. Chúa đã nói: “kẻ này gieo, người kia gặt”. Ta cứ gieo rồi ai gặt cũng được. Ta phải tập cho có tâm hồn quảng đại như vậy.
  (Ngày 20.11.1993)
770. Ai không trực tiếp đi làm việc tông đồ vì lý do bệnh tật..., chúng ta quyết tâm hy sinh cầu nguyện, kết hợp với công nghiệp Chúa Giêsu để cứu các linh hồn.  (Ngày 25.4.1990)
771. Nhớ rằng, người tông đồ đắc lực nhất không phải là người tài giỏi nhất, hoạt động nhất, nhưng là người gần Chúa nhất, cầu nguyện nhiều nhất.  (Ngày 14.6.1992)
772. Các nhà truyền giáo, làm việc hăng say, tổ chức những cuộc tĩnh tâm... nhưng nếu không cầu nguyện thì chỉ là xây nhà trên cát.
 (Ngày 24.1.1993)
773. Giúp cho giáo dân nên tốt, biết thờ phượng Chúa, đó là nhiệm vụ của tu sỹ, các con phải tích cực trong việc này.    
 (Ngày 08.05.1993)
774. Ta phải có tâm hồn sẵn sàng, bề trên sai đi đâu, ta hãy thưa: “Vâng lời Thầy con thả lưới” (Lc 5,5).  (Ngày 09.02.1992)
775. Các con có học giỏi hoặc giảng giải hay đến đâu, nhưng ra làm việc tông đồ mà không có tinh thần hy sinh, thì chẳng giảng đạo cho ai được. (Ngày 15.4.1991)
776. Chúng ta phải tập cho thân xác biết no biết đói, biết chịu khổ cũng như lúc được sướng vui, tập ăn uống mọi thứ cho quen, để có thể đi truyền giáo cho người Dân Tộc.  (Ngày 25.4.1990)
777. Các con phải luôn sẵn sàng, để khi các Bề Trên sai đi đến bất cứ nơi nào: quê mùa, thiếu nước, thiếu tiện nghi, người ta sống được, ta cũng sống được. (Ngày 24.2.1991)
778. Phải tập siêu thoát, đừng nô lệ bất cứ cái gì, để sau này đi truyền giáo được dễ dàng. (Ngày 24.2.1991)
779. Muốn làm tông đồ, phải có tinh thần hy sinh, phục vụ vui vẻ, sẵn sàng đón nhận những bất trắc trong đời sống. (Ngày 20.10.1991)
780. Hãy khôn ngoan lợi dụng mọi việc để nên thánh và cứu các linh hồn. Đừng để thời gian qua đi vô ích.  (Ngày  20.9.1992)
781. Đi truyền giáo, việc chúng ta phải làm là cầu nguyện và hy sinh hợp với đau khổ lớn lao của Chúa để cứu các linh hồn.
  (Ngày 22.11.1990)
782. Hãy ý thức: đời sống nội tâm là linh hồn của việc truyền giáo. (Ngày 4.02.1990)
783. Càng yêu Chúa thì càng yêu các linh hồn. Nếu ta yêu các linh hồn thì ta làm đẹp lòng Chúa vì Chúa rất yêu các linh hồn. 
(Ngày 14.01.1990)
784. Chúng ta cố sống đời tận hiến trọn vẹn, đó là ta đã giúp cách đắc lực cho việc truyền giáo rồi. (Ngày 27.8.1989)
785. Mỗi người hãy cố gắng trở nên một tông đồ. Mà tông đồ là bình chứa đầy Chúa Kitô và tràn cái quá đầy ấy sang người khác.  (Ngày 9.12.1990)
786. Là Nữ tu Thừa Sai, chúng ta  được sai đi đem ánh sáng Chúa đến cho mọi người. Vậy trước hết ta hãy lo thánh hóa bản thân. (Ngày 24.02.1991)
787. Bao lâu chưa được sai đi, ta làm việc truyền giáo bằng âm thầm dâng lên Chúa những hy sinh, những lời nguyện yêu mến liên lỉ, những chuỗi Mân Côi.    (Ngày 24.02.1991)
788. Hãy noi gương các nhà truyền giáo ngày xưa, sống khiêm tốn và đặt mình ở dưới mọi người. Nếu ta không sống khiêm tốn sẽ mất công phúc đi. (Ngày 12.6.1993)
789. Hãy sống thánh thiện, nhất là để ý nguyện lời yêu mến, vì đó là phương thế để cứu các linh hồn  (Ngày 17.10.1993)
790. Khi ta yêu Chúa, mọi cái sẽ trở nên dễ dàng, nhẹ nhàng. Nếu không yêu Chúa, ta không thể truyền giáo được đâu.  (Ngày 17.10.1993)
791. Ước gì chúng ta cũng tha thiết yêu Chúa và làm cho người khác yêu mến Chúa như Chị Têrêsa.  (Ngày 17.10.1993)
792. Lợi dụng những giờ rảnh, như từ nhà nguyện xuống nhà cơm, nghe chuông tới giờ khác... ta nguyện lời yêu mến xin Chúa cứu các linh hồn.  (Ngày 27.8.1996)
793. Y thức đọc: “Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội lỗi chúng con. Xin cứu chúng con khỏi sa hỏa ngục, xin đem các linh hồn lên thiên đàng...”, để xin Chúa cứu các linh hồn.  (Ngày 27.8.1996)
794. Bổn phận duy nhất của chúng ta trong đời sống tu trì là yêu Chúa hết lòng và làm cho người khác yêu mến Chúa.
  (Ngày 12.11.1995)
795. Đời sống có gương tốt là một bài giảng liên tục hiệu nghiệm hơn lời giảng của một vị thừa sai.  (Ngày 22.11.1990)
796. Chúng ta rao giảng không phải bằng lời nói, nhưng bằng cuộc sống, làm sao cho mọi người thấy được Tin Mừng qua ba lời khấn Dòng của ta.  (Ngày 20.11.1992)
797. Chúng ta phải nuôi dưỡng nhiệt tâm tông đồ, muốn đem Chúa đến cho người khác.  (Ngày 20.11.1992)
798. Sứ mệnh truyền giáo là nhiệm vụ của chúng ta, vì vậy không được cho đó là việc lúc nào rảnh thì làm.  (Ngày 27.8.1995)

2. Mục vụ, giáo lý

799. Ai cũng phải tập dạy giáo lý và thích dạy giáo lý. (Ngày 31.8.1996)
800. Được dạy giáo lý, đó là một vinh dự, vì ta được tiếp tục công việc giáo dục đức tin của Chúa Giêsu và của Giáo Hội.
  (Ngày 27.8.1995)
801. Chúng ta phải tỏ ra sung sướng vì được rao giảng Tin Mừng, đừng sợ mệt nhọc, và phải để ý dọn bài dạy tử tế.                (Ngày 27.8.1995)
802. Ai cũng hãy để ý trau dồi về giáo lý, để khi có cơ hội ta sẽ dạy cho người khác biết Chúa.  (Ngày 27.8.1995)
803. Không thương các linh hồn, chúng ta sẽ không tha thiết với việc dạy giáo lý. (Ngày 7.3.1991)
804. Khi đã thương linh hồn người ta, chúng ta sẽ tha thiết lo cho họ, dù có phải vất vả.  (Ngày 7.3.1991)
805. Hãy cố gắng học hiểu Chúa Giêsu hơn, để ta có thể dạy giáo lý và loan truyền về mầu nhiệm Chúa Giêsu cho người khác.
    (Ngày 8.3.1991)
806. Các con phải mê dạy giáo lý, dù 100 trẻ em may ra được một em để ý lời ta dạy, 100 lời may ra họ đón nhận được một lời, cũng tốt rồi.   (Ngày 3.5.1991)
807. Các con chịu khó dạy giáo lý, một lời ta nói, trẻ em cũng đón nhận được một chân lý. (Ngày 3.5.1991)
808. Dạy giáo lý chúng ta phải vất vả một chút, đừng lấy làm chán ngại, vì đang khi trao của ăn thiêng liêng cho người khác, thì ta cũng được no đầy.  (Ngày 5.3.1995)
809. Nếu yêu Chúa Giêsu, chúng ta sẽ sung sướng được dạy giáo lý, không những thích mà còn tranh lấy để dạy. (Ngày 7.5.1995)
810. Chúng ta sung sướng hãnh diện khi được dạy giáo lý cho anh em Dân Tộc, cứ gieo Tin Mừng rồi chính Chúa sẽ làm cho sinh hoa kết quả. (Ngày 7.02.1993)
811. Việc dạy giáo lý rất quan trọng, các con đừng coi thường. (Ngày 8.5.1993)
812. Chúng ta chẳng làm được việc gì lớn lao, nhưng ta có thể dạy giáo lý cho các em thiếu nhi, đó là một vinh dự.                            (Ngày 8.5.1993)
813. Đang khi dạy giáo lý cho các em nhỏ, chúng ta cũng đi sâu vào giáo lý và sống giáo lý ấy hơn.(Ngày 8.5.1993)
814. Để có thể dạy giáo lý hay đi truyền giáo, chúng ta phải sống hiệp nhất với nhau ngay bây giờ. (Ngày 24.2.1991)
815. Khi giảng dạy giáo lý, chúng ta cần phải cầu nguyện thì mới thành công.   (Ngày 13.10.1991)

3. Đặc biệt dành cho người nghèo hơn

816. Chúa Giêsu rất chú trọng đến những người bé mọn, nghèo khó, bị xã hội bỏ rơi. Muốn có tinh thần của Chúa, ta phải luôn để ý đến những người đó. (Ngày 3.3.1996)
817. Khi gặp người nghèo ta phải coi là của quý vì họ là chính Chúa Giêsu. (Ngày 14.01.1996)
818. Việc giúp người Dân Tộc rất khó khăn... Nhưng dầu sao ta cũng tập kiên nhẫn, và vui vẻ, để đưa họ về với Chúa.
 (Ngày 21.01.1996)
819. Chúng ta đưa các bà già vào nhà hưu dưỡng, để hầu hạ họ, lo cho họ đủ thứ là có ý giúp họ trở về với Chúa.
  (Ngày 21.01.1996)
820. Ước gì những người đau khổ luôn có một chỗ ưu ái trong trái tim và trong lời cầu nguyện của ta. (Ngày 10.3.1991)
821. Đối với người Dân Tộc, chúng ta phải kính trọng cúi chào họ tử tế. Các con phải tập thương họ tận đáy lòng.
      (Ngày 19.01.1992).
822. Chúng ta hãy biểu lộ tình yêu Chúa ra bằng cách yêu thương những người nghèo khó.  (Ngày 23.7.1995)
823. Muốn rao giảng Tin Mừng, chúng ta phải hạ mình xuống để sống hòa mình với những người thấp kém.                    
(Ngày 28.01.1996)
824. Nếu chúng ta nhìn ra người nghèo là chính Chúa thì dù họ có hôi, ta cũng thấy thơm, và không sợ tốn phí.
    (Ngày 4.7.1990)

4. Bác ái xã hội, thăm viếng

825. Chúng ta năng đi thăm viếng những người nghèo và tìm cách an ủi, giúp đỡ họ để đưa họ về với Chúa. (Ngày 24.3.1996)
826. Khi đi thăm viếng hay giúp đỡ người nghèo, nhớ rằng: Chúa đang cần nhờ ta  đưa Chúa đến với các linh hồn.
   (Ngày 14.01.1996)
827. Chúng ta giúp đỡ người khác, nhưng đừng bắt họ theo đạo. Ta cứ yêu thương họ, nhờ đó họ nhìn ra Chúa và theo Chúa.
 (Ngày 14.01.1996)
828. Mùa Chay, chúng ta để ý giúp đỡ những người đói khổ, hy sinh được gì ta góp vào công việc cứu giúp anh em nghèo đói.
  (Ngày 25.02.1996)
829. Chúa thương cho chúng ta được no đủ, nên ta phải để ý đến những người nghèo khó. (Ngày 22.12.1966)
830. Khi không có gì để giúp người nghèo, chúng ta cố tìm cách yên ủi, cầu nguyện cho họ, đối xử tử tế với họ.
  (Ngày 22.02.1995)
831. Các con tập cho mình luôn sẵn sàng để làm việc bác ái, giúp đỡ mọi người trong sự có thể.(Ngày 19.11.1996)
832. Không gì giúp người ta dễ tin vào Chúa và vững vàng trong niềm tin, bằng chúng ta thương yêu và giúp đỡ họ khi nghèo khó. (Ngày 19.11.1996)
833. Đi đến đâu chúng ta cũng đem Tin Mừng đến cho người ta, bằng sự tận tụy hy sinh giúp đỡ. Đồng thời ta giúp họ biết chịu đựng đau khổ. (Ngày 28.01.1996)
834. Khi chúng ta rửa tội cho ai, hãy theo dõi họ bằng cách năng  thăm viếng, giúp đỡ và giữ họ cho Chúa.  (Ngày 28.10.1995)
835. Các chị có nhiệm vụ phải nhớ trích phần trăm huê lợi và những của biếu tặng để góp vào quỹ bác ái. Vì Chúa bảo: “Cứ cho đi, sẽ được cho lại”. (Ngày 21.11.1993)
836. Ta phải ra khỏi tính ích kỷ để biết thương người nghèo như thương chính ta. (Ngày 21.11.1993)
837. Nếu Chúa cho gia đình chúng ta giàu có, ta khéo léo để làm lợi cho linh hồn họ, bằng cách xin họ giúp người nghèo và góp vào quỹ truyền giáo. (Ngày 10.02.1996)
838. Chúa cho chúng ta có tiền của, không phải chỉ để hưởng dùng, mà còn để chia sẻ cho anh em nghèo và giúp vào việc truyền giáo. (Ngày 28.12.1989)
839. Nếu chỉ cứu được một linh hồn mà mất cả gia tài cũng không đáng kể gì...  (Ngày 28.12.1989)
840. Nếu chúng ta yêu Chúa thật và nhìn thấy Chúa trong mọi người, ta sẽ sẵn sàng giúp đỡ họ. (Ngày 9.12.1989)
841. Thương người đó là giới răn quan trọng lắm. Các con phải cẩn thận thi hành ý muốn của Chúa (Ngày 7.01.1990)

5. Giáo  dục Mầm Non

842. Việc giáo dục Mầm Non cũng là cách truyền giáo. Vì vậy ta phải quý mến các em, tìm cách gieo vào lòng chúng những tư tưởng về Chúa.   (Ngày 14.01.1996)
843. Chúng ta giãi ánh sáng của Chúa ra bằng thái độ mềm mại, dễ thương khi dạy học, đó là thái độ của những con người giống Chúa Giêsu. (Ngày 21.3.1993)
844. Trong khi dạy dỗ hay coi sóc các em, chúng ta cầu nguyện rồi Chúa sẽ hành động trong các em. (Ngày 8.5.1993)
845. Hãy cố gắng trở thành nhà giáo dục và nhà truyền giáo tốt. (Ngày 25.11.1995)
846. Khi dạy học, chúng ta khéo léo đưa Chúa đến cho các em bằng chính đời sống tốt lành, yêu thương, nhân từ của ta.
  (Ngày 25.11.1995)
847. Chúng ta để ý dạy cho các em biết chào hỏi, thưa gửi hẳn hoi, đó là điều  làm cho cha mẹ các em rất mừng. (Ngày 31.8.1996)

6. Y tế

848. Đi truyền giáo đừng nghĩ: cứ giảng đạo là người ta tin theo ngay, nhưng trước tiên phải biết giúp họ, chữa bệnh cho họ, rồi dần dần mới nói gì thì nói.   (Ngày 26.01.1992)
849. Chúng ta không làm được phép lạ như Chúa, nhưng ta có thể cho họ thuốc này thuốc khác để yên ủi họ.                      
(Ngày 9.02.1995)
850. Khi  phục vụ trong bệnh viện, chúng ta rao giảng Chúa bằng cách nhìn Chúa trong các bệnh nhân, sẵn sàng giúp đỡ họ.
   (Ngày 20.11.1992)
851. Chữa bệnh cho người ta, giúp họ đỡ đói, và chịu khó đi thăm viếng, niềm nở hỏi han... Đây là việc tầm thường, nhỏ mọn, nhưng nhờ đó người ta nhìn ra Chúa.( Ngày 20.02.1996)

XI. Qúi trọng những ơn gọi

852. Muốn cho Dòng có nhiều ơn gọi, chúng ta hãy để ý cầu nguyện. (Ngày 10.3.1991)
853.  Chúng ta phải cầu nguyện cho Hội Dòng, kẻo biết đâu chị em bỏ Dòng vì không sống được với nhau, dần dần tan rã; hoặc vì không có ai đến tu. (Ngày 10.3.1991)
854. Các Bề Trên phải lo lắng giữ gìn các ơn gọi, huấn luyện họ nên người và nên thánh, bảo đảm đời sống họ cho đến hơi thở cuối cùng. (Ngày 25.6.1989)
855. Các con phải biết ơn Chúa đã ban cho Dòng chúng ta nhiều ơn gọi.    (Ngày 25.6.1989)
856. Khi thấy có ai đến tu,  chúng ta phải biết qúy mến và yêu thương họ, vi Hội Dòng mà không có không có mầm mon sẽ không có tương lai. (Ngày 25.6.1989)
857. Yêu Hội Dòng, chúng ta sẽ coi Dòng là gia đình của mình, sẽ vui mừng vì có người tu thêm, như cha mẹ mong có con để nối dõi tông đường. (Ngày 25.6.1989)
858. Nếu chúng ta coi các em đến tu là hồng ân, thì ta phải biết qúy, biết giữ lấy, biết giúp họ cộng tác với ơn Chúa, bằng lời cầu nguyện và bằng gương sáng. (Ngày 16.7.1996)
859. Chúng ta hãy để ý cầu nguyện cho chính mình, cho mọi chị em được giữ vững ơn gọi.  (Ngày 16.7.1996)
860. Chúa còn ban ơn gọi cho Hội Dòng, chúng ta sung sướng đón nhận ơn Chúa. Hãy tôn trọng, yêu mến và đón tiếp các em cách niềm nở, vui vẻ.  (Ngày 13.6.1995)
861. Ơn gọi ngày nay qúy lắm, chúng ta phải cố gắng bảo tồn bằng sống đời tận hiến đúng nghĩa. Đừng để bất cứ cái gì lôi kéo ta ra khỏi Chúa.  (Ngày 3.9.1989)
862. Chúng ta phải sống thế nào để những em đệ tử sắp đến tìm hiểu ơn gọi, nhìn thấy chúng ta lành thánh và họ muốn ở lại tu.
(Ngày 08.5.1993)
863. Phải luôn cám ơn Chúa đã ban thêm ơn gọi mới. Gặp các em có điều gì không được, chúng ta đừng nói này, nói kia... làm cho các em thấy ta không cao thượng.  (Ngày 25.6.1989)
864. Chúng ta qúy những người tu không phải vì cần người làm việc, nhưng cần có thêm tông đồ cho Chúa. (Ngày 25.6.1989)
865. Các con hãy biết qúy những ơn gọi mới, biết nương nhẹ họ như những cây mới ương. (Ngày 27.08.1989)
866. Trong Dòng, trách nhiệm của các chị đi trước rất lớn: thái độ khiêm tốn nhịn nhục của các chị giáo dục các em đến sau rất nhiều. (Ngày 25.6.1989)
867. Dòng chúng ta có điểm khác các Dòng là cứ để các em sống gần chúng ta. Vì thế các chị càng tu lâu càng phải sống thánh, để đem lại ảnh hưởng tốt cho các em. (Ngày 27.8.1989)
868. Một linh hồn tận hiến cao qúy hơn cả vũ trụ. Ai có đức tin sẽ thấy một linh hồn tận hiến đáng qúy vô cùng. (Ngày 27.8.1989)
869. Chúng ta có những ơn gọi mới, hãy cố gắng làm gương sáng cho ho, vì Chúa đang muốn dùng ta cộng tác với Chúa xây dựng những ơn gọi tốt.  (Ngày 3.9.1989)
870. Cha xin những chị em có trách nhiệm vác thánh giá lãnh đạo Hội Dòng, phải rất thận trọng để chọn người vào tu.
(Ngày 12.8.1990)
871. Các con cố gắng cộng tác với các Bề Trên. Khi làm việc chung với các em, chúng ta chịu khó chỉ bảo cho họ cách kỹ lưỡng nhưng êm đềm. (Ngày 09.6.1991)
872. Mọi người phải cộng tác vào việc huấn luyện chị em bằng cầu nguyện và bằng việc sửa bảo cho nhau.  (Ngày 14.4.1993)
873. Các em mới đến tu thấy chúng ta hòa thuận, vui vẻ, họ sẽ thích tu.   (Ngày 22.8.1996)
874. Các em đã đến Nhà Dòng, thì ta phải làm sao để các em không muốn ra về nữa. (Ngày 19.7.1991)

XII. Việc huấn luyện

875. Việc huấn luyện rất cần ! Nhà Dòng chúng ta đừng nhận người mà không huấn luyện, và huấn luyện phải có phương pháp.
(Ngày 03.9.1995)
876. Càng đông người mà không huấn luyện càng nguy hiểm ! (Ngày 03.9.1995)
877 . Chúng ta nhận thêm Đệ tử, phải dạy dỗ cho các em nên người và lo cho các em nên thánh, có như vậy nhà Dòng mới vững. (Ngày 22.8.1996)
878. Các chị khấn trọn hãy cộng tác với các Bề Trên trong việc huấn luyện, uốn nắn các em bé đang tiến lên. Vì còn bé mà không sửa được, lớn khó sửa lắm.  (Ngày 22.8.1996)
879. Cha muốn để cho các em Học Viện ở Nhà Mẹ một thời gian để học hỏi, tập luyện nhân đức cho vững rồi mới sai đi.
(Ngày 22.8.1996)

XIV. Nhắc nhở nhân bản

1. Đối với người ngoài
893. Chúng ta phải luôn khiêm tốn với mọi người. Ta càng khiêm nhường bao nhiêu, người ta càng quý bấy nhiêu.           
(Ngày 25.12.1989)
894. Giao thiệp với người ngoài, với các Linh mục, Tu sĩ... chúng ta cũng phải cẩn thận, như thế mới giữ được ơn gọi cho chị em. (Ngày 03.9.1989)
895. Các con hãy nhớ chúng ta là của Chúa,  thuộc về Chúa. Các cha có thích ta, có cho ta lọt vào mắt các ngài thì ta cũng phải móc ra. (Ngày 25.12.1989)
896. Dù cha xứ có cảm tình với ta, ta cũng cứ đứng đắn vững vàng. Luôn nhớ ta là người của Chúa, không ai có quyền cướp ta khỏi tay Chúa.      (Ngày 03.5.1991)
897. Khi làm việc ở các nhà xứ, chúng ta phải sống cho Chúa, đừng muốn lấy cảm tình của cha nào hay bất cứ ai.
(Ngày 07.6.1996)
898. Đối với các cha xứ, cha phó, các con đừng ướt át, cảm tình, đừng nói chuyện dài dòng. Hãy giữ nguyên tắc: ít khi - vắn tắt - nghiêm trang. (Ngày 07.6.1996)
899. Đối với người khác phái: đừng ai để mình bị chinh phục, cũng đừng chinh phục ai. Đừng đi qúa trớn. (Ngày 07.6.1996)
900. Đi đâu, làm gì cũng phải cẩn thận giữ mình. Làm sao lúc gần chết mỗi người chúng ta có thể nói: “Cám ơn Chúa, nhờ Mẹ gìn giữ, tôi chưa thuộc về ai !” (Ngày 07.6.1996)
901. Các con tập cho biết ăn nói: Đừng bao giờ tự xưng là “Dì” đối với những người lớn tuổi, lớn chức.  (Ngày 25.12.1989)
902. Phải hiểu rõ lập trường của Dòng chúng ta, đừng vì nể núng ai haycảm tình rồi vào phe với người ngoài.   (Ngày 06.01.1990)
903. Các em thiếu nhi có nhiều đòi hỏi: tổ chức cắm trại, đi chơi, ăn uống, chụp hình, qũy riêng... Ta đừng đi quá khuôn khổ hoạt động của Dòng.   (Ngày 06.01.1990)
904. Đừng để vì cảm tình với người nọ người kia, mà quên đi cái cốt yếu của ta là phải lo giữ ơn gọi và nên thánh.(Ngày 06.01.1990)
905. Đối với người ngoài, chúng ta không được nói dối, nhưng cũng không buộc phải nói với họ hết mọi sự thật của Hội Dòng.
(Ngày 11.02.1990)
906. Trong Dòng đôi khi xảy ra những chuyện chị em va chạm, xích mích nhau, chúng ta đừng mang hết những chuyện đó kể cho người ngoài nghe.    (Ngày 11.02.1990)
907. Dòng chúng ta không có lệ nhận cha linh hồn là để giữ các con cho Chúa. Nếu cho các con nhận cha linh hồn thì nhà Dòng sẽ rất lộn xộn.  (Ngày 03.3.1990)
908. Đối với các linh mục, các con hãy tôn trọng, vì các ngài là người của Chúa.  (Ngày 03.5.1991)
909. Vấn đề tình cảm, các con hãy cố gắng chiến đấu để sống cao cả, trưởng thành, để có thể giúp người khác sống cao thượng hơn. (Ngày 03.5.1991)
910. Đi đâu các con cũng sống vui vẻ và đứng đắn, người ta sẽ phục, sẽ quý.           (Ngày 03.5.1991)
911. Hãy luôn sống đứng đắn để tín hữu tin tưởng chúng ta, đừng làm gì để họ coi thường ta. (Ngày 03.5.1991)

2. Cẩn trọng trong lời nói

912. Hãy tập nói năng cẩn thận, đừng phát ngôn bừa bãi. Hãy biết phân biệt những gì nên nói, điều gì không nên nói.           
(Ngày 03.5.1991)
915. Tập sống rất cởi mở, nhưng cũng lại rất kín đáo.        
(Ngày 03.5.1991)
916. Thật đáng buồn khi có những chị em không thương Dòng, không thương chị em ! Hễ có gì bất mãn, là lập tức kêu ca phàn nàn ngay với người đời. (Ngày 03.5.1991)

3.  Vấn đề ăn mặc

917. Chúng ta ăn mặc kín đáo, đừng qúa sang trọng, mà cũng không lôi thôi rách rưới. (Ngày 03.5.1991)
918. Chị Dòng mặc y phục hẳn hoi xứng với bậc tu trì, người ta sẽ mến phục.   (Ngày 03.5.1991)
919. Nhà Dòng may cho làm sao, chúng ta mặc như vậy, phải biết tiết kiệm, khó nghèo trong việc ăn mặc.   (Ngày 03.5.1991)
920. Ta đã bỏ mọi sự vì tình yêu Chúa Kitô, đừng trộm vụng mặc quần áo kiểu này kiểu kia, rồi chụp hình cho người ta ngắm.
(Ngày 03.5.1991)
921. Chúng ta đã tận hiến cho Chúa rồi, ai chê ta “cổ” cũng chẳng sao. Chị nào  muốn “tân” thì xin đi Dòng khác.
(Ngày 03.5.1991)

4. Vấn đề săn sóc bố mẹ khi đau ốm

922. Khi Nhà Dòng nhận thấy bố mẹ chúng ta cô đơn bệnh tật, thì chẳng những các Bề Trên sẵn sàng cho phép, mà còn thúc giục các con đi thăm viếng và chăm sóc. (Ngày 13.9.1992)
923. Các con phải suy xét cho hợp lý kẻo gây khó nghĩ cho Bề Trên. Nếu ta về coi sóc cha mẹ một thời gian lâu dài, kiếm ai thay thế công việc ta đang làm ? (Ngày 13.9.1992)
924. Nếu các Bề Trên xét cho ta về săn sóc cha mẹ ít ngày, hoặc chỉ kịp gặp họ trong giờ sau hết, ta cũng hãy vui lòng.
(Ngày 13.9.1992)
925. Có những cha mẹ đạo đức, hiểu đời tu, thấy con về săn sóc mình, đã giục giã con về nhà Dòng đúng hẹn Bề Trên định, để mặc họ với anh em trong gia đình. (Ngày 13.9.1992)

5. Vấn đề giúp nhà xứ

926. Các chị giúp nhà xứ, chỉ làm trong giới hạn nào thôi, chứ không phải lo cho họ hết mọi thứ như trong nhà Dòng.
(Ngày 12.6.1993)
927. Các con đừng thấy nhà Dòng có cái gì hay cũng muốn làm cho nhà xứ như vậy. (Ngày 12.6.1993)
928. Khi ra giúp nhà xứ, chúng ta hãy làm đúng trong lãnh vực của mình, và hãy làm vì Chúa, đừng làm vì ai cả.(Ngày 12.6.1993)

6. Đi thăm gia đình

929. Về gia đình các con phải nhớ luôn rằng: mình là chị Dòng, là người theo Chúa. (Ngày 22.01.1995)
930. Về gia đình, các con cố gắng giữ các việc thiêng liêng tử tế. Tìm nơi nào vắng để đọc kinh cầu nguyện, nếu không thể ra nhà thờ được. (Ngày 22.01.1995)
931. Nhiều chị em đi thăm gia đình có thói quen sau thánh lễ ở lại cám ơn Chúa, đọc sách thiêng liêng, người ta rất phục. Những việc như thế sẽ làm gương sáng cho người ta. (Ngày 22.01.1995)
932. Về gia đình, các con tập đem Chúa Giêsu đến cho mọi người chúng ta gặp gỡ, bằng lời nói, cử chỉ, hành động của ta, nhất là bằng lời cầu nguyện.  (Ngày 24.01.1995)
933. Về gia đình, nếu thấy họ có dư giả, chúng ta có thể xin một món để giúp người nghèo, nhưng phải khôn ngoan…           (Ngày 24.01.1995)
934. Các con đi đâu cũng đem Chúa đi với mình. Đừng để bất cứ cái gì làm cho ta xa Chúa. (Ngày 17.12.1996)
935. Chúng ta đi thăm gia đình, đưa Chúa đến cho họ không phải bằng giảng dạy, nhưng bằng cách sống của ta.                    (Ngày 17.12.1996)
936. Các con tập đi đâu ta cũng làm cho người ta thấy cách sống của ta đúng là người của Chúa. (Ngày 18.11.1991)

XV. Nhắc nhở Phụng vụ

937. Các con phải thận trọng giữ đúng luật Phụng vụ. (Ngày 09.12.1989)
938. Những ai cứ tự ý thêm thắt luật phụng vụ là những người kiêu ngạo tự cho mình là khôn hơn Giáo Hội.  (Ngày 09.12.1989)
939. Luôn  giữ vững lập trường theo luật Phụng vụ. (Ngày 09.12.1989)
940. Ai được công bố Lời Chúa phải đọc rõ ràng, đừng đọc chữ này ra chữ nọ.  (Ngày 16.7.1996)
941. Ai đọc sách nhà nguyện phải đọc trước, đọc cho hiểu ý nghĩa, chứ đừng chỉ xem qua thôi. (Ngày 14.01.1990)
942. Các Thánh Thi đọc vừa vừa thôi, đừng cao qúa hay thấp qúa! (Ngày 19.01.1992)
943. Trong nhà nguyện, chúng ta phải hát và đọc kinh cho rõ ràng, ăn khớp với nhau, sao cho đừng lỗ mỗ.                           (Ngày 01.8.1993)
944. Dâng lễ, các con phải để ý từ khi làm dấu Thánh Giá bắt đầu, đến lúc làm dấu lãnh phép lành cuối lễ.    (Ngày 30.03.1995)
945. Ai có bổn phận đánh đàn phải tập hẳn hoi. (Ngày 01.8.1993)
946. Những gì làm trong nhà thờ phải được làm thận trọng.  (Ngày 01.8.1993)
947. Đầu các bài hát, kinh vinh danh… bắt một vài nốt đầu cho rõ ràng để dễ bắt vào. (Ngày 12.2.1978)
948. Tiếng “Amen” rất quan trọng, nên phải thưa cách thận trọng, đừng coi thường. (Ngày 30.3.1995)
949. Ta có phiên chầu Thánh Thể liên tiếp, ai bỏ hoặc quên sót... là lỗi bổn phận kéo ơn Chúa xuống cho Hội Dòng.
(Ngày 10.02.1996)
950. Làm hang đá chúng ta cố diễn lại cảnh hang đá Belem xưa: Chúa sinh ra rất âm thầm, không ai biết đến, không có ánh sáng tỏa lan tưng bừng... (Ngày 01.8.1993)
951. Việc dâng của lễ, nếu có dâng, ta làm vắn thôi, vì phải để ý đến phần chính của Thánh Lễ là Lời Chúa và Thánh Thể.
(Ngày 31.5.1993)

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Copyright. 2018 © DONG TRINH VUONG Copyright.2018 .All rights reserved.
Trụ sở chính: 41/2D Ấp Tân Tiến, Xã Xuân Thới Đông, Huyện Hóc Môn, TP HCM
Phone: 
 
(028).38 910 676 - 37 109 011; Email biên tập: truyenthongtrinhvuong@gmail.com.
© Mã nguồn mở  NukeViet CMS  4.3
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây